Wednesday, October 17, 2012

Có thể bạn khó tránh được mọi vấn đề vì có những chấn thương xảy ra do tai nạn nhưng bạn có thể tự thực hiện một vài biện pháp phòng ngừa và chữa trị hợp lý để giảm thiểu nguy cơ đáng kể.
Mốt số lời khuyên dưới đây sẽ giúp ích cho bạn phòng tránh bệnh đau lưng:
1. Đi giày hợp lý
Nếu bạn không muốn gặp các vấn đề về lưng, nên chú ý hơn đến đôi giày bạn đang đi. Về mặt lý thuyết, những đôi giày cao gót có thể không khiến bạn gặp khó khăn trong việc đi lại nhưng lại có thể khiến bạn đau lưng hơn so với đi giày đế thấp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng bạn luôn luôn phải mang giày đế thấp. Cho dù những đôi giày cao gót có thể ảnh hưởng đến tư thế của bạn nhưng bạn vẫn có thể đi miễn là biết mình nên đi trong bao lâu và không đi thường xuyên.
http://www.yhth.vn/UserFiles/1233856255_daulung_12018291011.jpg
2. Nâng vật nặng đúng tư thế
Bạn đã bao giờ nghe “Đường cong ở đầu gối chứ không phải ở eo”. Đây là một lời nhắc nhở để bạn nhớ khi nâng một vật gì đó nặng mà không làm tổn thương chính mình. Nếu bạn nghiêng về phía trước để lấy đồ vật, lưng của bạn sẽ bị căng ra, lúc này, cách tốt nhất là khuỵu đầu gối, cúi xuống lấy đồ và từ từ đứng lên.
3. Ghế ngồi tốt
Vì tính chất công việc, bạn phải ngồi nhiều và không thể làm khác được? Hãy chắc chắn rằng chiếc ghế của bạn phải vừa thoải mái và giúp bạn có một tư thế ngồi tốt. Tương tự như vậy, nếu bạn dành nhiều thời gian sử dụng máy tính, dù là ở nhà hay ở nơi làm việc thì bạn cũng nên chọn những chiếc ghế thoải mái để tránh bị đau lưng về sau này.
4. Tư thế ngồi thoải mái
Hãy nhìn tư thế của mình trong gương để xem bạn đứng đã thẳng chưa, ngồi có thẳng lưng không. Bạn không đi học các lớp học dạy đi thẳng lưng bằng cách đặt cuốn sách trên đầu nhưng chỉ cần chú ý đến cách bạn đứng, và cố gắng đứng thẳng là được.
http://socola.vn/photos/image/2011/thang09/05/van-phong1.jpg
5. Chất lượng đệm
Hãy suy nghĩ về chúng ta dành bao nhiêu thời gian để ngủ và ngủ trên một tấm đệm như thế nào. Một tấm đệm kém chất lượng hoặc quá cũ cũng có thể khiến bạn không thoải mái và có cảm giác đau lưng.
6. Giữ trọng lượng hợp lý
Nếu bạn đang thừa cân quá nhiều, rất có thể không có lợi cho lưng của bạn. Thừa cân có thể gây ra đau lưng, do đó, nên giữ một trọng lượng hợp lý sẽ giúp giữ cho lưng khỏe mạnh vì nó giảm được áp lực đè lên xương cột sống và các cơ lưng.
7. Chọn áo chip phù hợp
Trọng lượng của ngực cũng có thể gây ra vấn đề đối với lưng của bạn, ngực to có thể khiến cho nguy cơ đau lưng cao hơn, nhưng không phải vì thế mà làm cho ngực nhỏ đi. Thay vào đó, cách tốt nhất để đối phó với điều này là đảm bảo chọn áo ngực đúng kích thước để có tác dụng nnag ngực vừa phải, áp áp lực lên lưng để tránh đau lưng.
Nói chung, lưng của chúng ta rất dễ bị chấn thương và tác động từ cả bên ngoài lẫn do chủ quan, vì vậy, điều chúng ta cần làm là tránh chấn thương và căng cơ ở lưng.

Nguồn: Afamily.vn

Tuesday, September 18, 2012

Bài tập thư giản mắt khi làm việc nhiều

Đôi mắt dễ bị mệt mỏi khi chúng ta làm việc quá nhiều nhất là những công việc đọc sách, may, nấu ăn hoặc làm việc trước máy tính hàng giờ đồng hồ. Thường xuyên phải nhìn ở khoảng cách gần khoảng 20 cm. Để giảm stress và thư giản mắt bạn có thể thực hiện ở bất kỳ thời gian nào, nơi nào có thể bài tập thư giản mắt sau:
- Ngồi, đặt hai cùi trỏ lên bàn, dùng gan lòng bàn tay úp nhẹ lên hai mắt đang nhắm, tạo ra một khoảng tối đen, đồng thời đỡ lấy đầu. Hãy thả lỏng, hít thở sâu. Giữ như vậy trong vài giây để thả lỏng các cơ làm nhiệm vụ điều tiết, đồng thời từ từ hướng mắt đi các phía, ngước mắt lên trên.
- Từ từ hạ thấp đầu đến khi cằm chạm xương ức và giữ như vậy trong vòng 3 giây, sau đó từ từ nâng ngửa đầu ra phía sau. Vài giây sau lặp lại động tác này từ 5 – 10 lần. Sau đó quay đầu từ từ sang trái, nhẹ nhàng. Giữ nguyên vị trí 3 giây, sau đó quay đầu sang phải… Sau đó nghiêng đầu sang trái, rồi sang phải…Cuối cùng cúi đầu về phía trước, và xoay đầu phía trái, rồi đằng sau, sang phải, rồi cúi xuống phía trước… Xoay ngược lại sau 3 – 5 vòng quay: Bài tập này giúp cho giảm sức căng của gáy, chống khô mắt.
- Cứ mỗi giờ, nhìn vô định ra ngoài cửa sổ để thả lỏng sự điều tiết của mắt, tìm lại nhịp mắt bình thường và thay đổi tư thế ngồi, và mỗi ngày một lần, đi ra ngoài trời, nhìn ngắm màu xanh của cỏ cây, màu dịu nhất cho mắt.
Bài tập căng cơ có chủ động.
Nhìn chăm chú vào một vật cách xa 30 cm, sau đó một lúc, nhìn ra ngoài xa ngoài cửa sổ và thư giãn mắt vào đồ vật và lại nhìn ra xa. Bài tập này nhằm thay đổi tiêu cự, giúp các cơ mắt khỏe hơn.
Không ngoái đầu lại và không thay đổi đột ngột cử động, nhìn hết cỡ về bên trái đến mức có thể, rồi ngay lập tức nhìn sang phải không dừng ánh mắt lại vào điểm nào ở giữa hai phía. Sau đó lặp lại một lần nữa. Làm tương tự như vậy nhưng đổi hướng nhìn lên trên và xuống dưới, sang trái. Lặp lại vòng nhìn này nhiều lần và thay đổi hướng nhìn. Cuối cùng nhìn xuống dưới và đảo mắt thành một vòng tròn to. Kết thúc bằng bài tập thư giãn mắt phía trên.
Giơ bút chì ra xa ngang tầm cánh tay. Từ từ đưa bút về phía đầu mũi và đồng thời hướng mắt nhìn theo bút. Để như vậy vài giây sau đó đưa bút ra xa. Đây là cách làm tăng độ hội tụ của mắt.
Theo Sức khỏe và Đời sống

Thursday, September 13, 2012

Cận thị là do chế độ ăn uống thiếu chất, hoạt động thị lực không đúng cách. Nên vấn đề ăn uống thế nào giúp phòng và chữa bệnh cận thị cũng rất quan trọng.  Cần chọn nhũng thức ăn đồ uống trong đó có nhiều món có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị các chứng bệnh ở mắt như sau:

Phòng cận thị
- Điểm tâm: Caramen trộn mật ong
Cách chế và dùng: Đánh đều trứng gà với 1 ly sữa. Đun cách thủy đến khi chín, đến khi thấy chỉ còn âm ấm thì trộn mật ong vào. Ăn sau khi ăn sáng.
Trứng gà và sữa là những món ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Chúng có tác dụng tốt đối với thần kinh, võng mạc và các bộ phận của mắt, đặc biệt là có tác dụng làm tăng độ dẻo dai của các cơ mắt. Mật ong cũng bao gồm nhiều hoạt chất sinh học quý. Các thứ thức ăn trên có tác dụng tăng cường sức khỏe toàn thân và phòng chống cận thị.
- Món lót dạ buổi chiều
Thành phần: 10g kỷ tử, 3g trần bì (vỏ quýt lâu ngày), 10 quả long nhãn, mật ong 1 muỗng nhỏ.
Cách chế và dùng: Kỷ tử và trần bì gói vào vải mỏng rồi cùng đun với các thứ còn lại. Cho nước vừa phải, đun nhỏ lửa trong 1/2 giờ; vớt kỷ tử và trần bì ra rồi ăn phần còn lại. Ăn lót dạ thêm vào đầu giờ chiều.
Kỷ tử bổ can, thận, là vị thuốc làm sáng mắt kinh điển trong Đông y. Long nhãn an thần, bổ tỳ. Trần bì kiện tỳ, khai vị. Các vị thuốc trên đồng thời cũng là thức ăn có tác dụng bổ dưỡng toàn thân và phòng các bệnh về mắt.
Nếu có điều kiện, nên thường xuyên sử dụng hai món ăn trên.
Chữa cận thị
Thành phần: Kỷ tử 10g, trần bì 3g, hồng táo 8 quả, mật ong 2 thìa.
Cách làm: Lấy kỷ tử, trần bì và  đại táo đun nhỏ lửa với 200ml nước trong 20 phút, chắt nước ra rồi thêm nước vào, đun lần thứ hai như trên. Hai nước trộn đều, chia hai lần uống; các lần uống cách nhau 3 đến 4 tiếng. Mỗi lần uống thêm một thìa mật ong vào.
Hồng táo, ta thường gọi là “táo tàu”, bán ở các hiệu thuốc. Hồng táo chứa các sinh tố A, B2, C và các nguyên tố vi lượng có ích cho mắt; tác dụng tăng cường cơ nhục của nó đã được chứng minh bằng thực nghiệm. Món ăn trên có tác dụng bổ tỳ, can, thận; đặc biệt là tăng cường sự dẻo dai của các cơ vùng củng mạc và vùng thể mi, những loại cơ có liên quan mật thiết đến chứng cận thị.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Tuesday, September 4, 2012

Những điều cần biết về amip ăn não người

Trong thời gian gần đây thông tin về “amip ăn não người” khiến nhiều bạn đọc quan tâm. Để hiểu thêm về loại amip này các bạn có thể tham khảo nội dung sau:
 
Amip – vi sinh vật nguy hiểm
Các bác sĩ cho biết, “amip ăn não người” là loài vi sinh vật đơn bào đáng sợ, có tên khoa học là Naegleria fowleri. Nhờ sở hữu trên 15.700 gen mã hóa protein, “amip ăn não người” có thể tồn tại trong tự nhiên ở 3 hình thái. Chúng thường săn đuổi và ăn vi khuẩn giống như các loại amip, hoặc cũng có thể chuyển sang dạng trùng roi để bơi đi tìm môi trường thuận lợi hơn; thậm chí “biến” thành dạng bào nang nếu gặp điều kiện khắc nghiệt. Chính vì khả năng biến hình linh hoạt này mà Naegleria fowleri rất khó bị tiêu diệt, có thể tồn tại dai dẳng ở những nơi ấm và ẩm ướt.
Theo bác sĩ Phú, “amip ăn não người” phát triển mạnh ở những vùng nước ngọt ấm áp như: ao, hồ, sông, suối… vào mùa hè; thậm chí là hồ bơi không được vệ sinh, sát khuẩn. Chúng xâm nhập vào cơ thể qua đường mũi, di chuyển theo các sợi thần kinh khứu giác thông qua sàn sọ để lên não. Điều nguy hiểm là amip này có thể vượt qua mọi khâu lọc khử trùng, nhiễm vào hệ thống nước sinh hoạt của các gia đình. May mắn, amip này không gây bệnh thông qua uống nước, trừ khi súc miệng mà nước nhiễm amip xộc lên mũi.
Sau khi nhiễm “amip ăn não người” 1-14 ngày, các triệu chứng khởi đầu của bệnh sẽ xuất hiện: nhức đầu, buồn nôn, sốt, cứng cổ, xuất hiện ảo giác, thậm chí mất khả năng kiểm soát hành vi. Các triệu chứng thứ phát có thể đi kèm như: lú lẫn, u ám, thiếu tập trung, cơn co giật. Sau đó, bệnh diễn tiến nhanh chóng và nguy cơ tử vong rất cao, thường xảy ra từ 7 đến 14 ngày sau khi mắc bệnh. Các triệu chứng ban đầu này dễ nhầm với viêm não do vi khuẩn hoặc vi rút nên việc chẩn đoán rất khó khăn.
Theo Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh Mỹ (CDC), bản năng của loại ký sinh trùng này không hoạt động để tấn công người và chúng chủ yếu ăn vi khuẩn. Tuy nhiên, khi nhiễm vào não, chúng nhân lên nhanh chóng và bắt đầu ăn tế bào não để tồn tại. Nếu bị nhiễm, nạn nhân chắc chắn sẽ bị viêm màng não.
Bệnh “amip ăn não người” được hai bác sĩ M. Fowler và R.F. Carter lần đầu tiên mô tả ở Australia vào năm 1965. Năm 1966, ông Fowler đặt tên cho loại amip này là Naegleria fowleri. Cho đến nay, khoảng 150 ca bệnh đã được xác định trong nhiều quốc gia và chỉ có một ca được cứu sống vào năm 1978.
Các quốc gia từng ghi nhận các ca bệnh “amip ăn não người”:
Mỹ: Giai đoạn năm 1937-2007 có 121 nạn nhân tử vong. Các năm 2001-2011 đã có 35 ca tử vong được báo cáo; trong đó đến 32 ca tiếp xúc với nguồn nước ở khu vui chơi giải trí.
New Zealand: Năm 1968-1978 có 8 trường hợp tử vong sau khi các nạn nhân bơi trong một hồ nước ấm ở khu vực Waikato.
Pakistan: 2 bệnh nhân nam 39 tuổi và 54 tuổi tử vong vào năm 2010.
Tiệp Khắc cũ: Năm 1962-1965 ghi nhận 16 bệnh nhân chết vì viêm não – màng não cấp do tắm trong một bể bơi.
‘Amip ăn não người’ cướp mạng sống một thanh niên tại Việt Nam
Anh Hữu, 25 tuổi, ngụ Phú Yên, tạm trú tại Bình Thạnh, TP HCM, tử vong sau một ngày nhập viện. Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới cho thấy anh mắc phải loại “amip ăn não người”.
Nguyên nhân là do anh Hữu cùng bạn bè lặn bắt trai ở một cái bàu (một dạng ao hồ rộng lớn) gần nhà. Sau đó, có triệu chứng lên cơn sốt, nhức đầu, lơ mơ, cổ cứng, thở nhanh 30 lần một phút và bệnh nhân vẫn sốt cao 40-41oC, suy hô hấp, xuất huyết tiêu hóa và rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Đến 23h ngày 31/7, bệnh nhân nhiều lần bị ngưng tim đột ngột, tử vong.
Bệnh do ‘amip ăn não người’ rất hiếm gặp
Thạc sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (Hà Nội) lý giải, ký sinh trùng “ăn não người” như trường hợp mới đây ở TP HCM không phải là amip thực sự.
Bệnh do amip rất cổ điển, mô tả từ lâu, những nước nhiệt đới như nước ta có ghi nhận sự lưu hành của amip. Khi ăn phải thức ăn, rau sống, tay bẩn có dính kén amip, nó vào trong cơ thể xuống đến tận ruột già. Tại đây, nếu gặp điều kiện thuận lợi, ký sinh trùng phá vỡ vỏ chuyển thành thể amip hoạt động, gây chứng lỵ, đau quặn, đi ngoài ra phân, máu… hoặc đơn giản bị rối loạn tiêu hóa. Đại đa số trở thành bệnh amip ruột mãn tính.
Tỷ lệ người Việt Nam nhiễm amip cao, trong đó phân thành 2 thể: amip tại ruột và amip ngoài ruột. Amip ngoài ruột nghĩa là ký sinh trùng từ ruột đi vào cơ thể qua đường máu xâm nhập một số cơ quan gây nên các ổ áp xe, gây mủ, điển hình là áp xe gan do amip- những trường hợp này các bác sĩ gặp nhiều. Nhưng những trường hợp lên não gây áp xe não rất hiếm, chỉ ở những người có hệ thống bảo vệ rất kém, thạc sĩ Hà nhấn mạnh.
Cũng theo bác sĩ này thì, loài vi sinh vật này nguy hiểm nhưng người dân không nên quá hoang mang vì đây là bệnh lý vô cùng hiếm gặp. Nhưng cũng bởi hiếm gặp nên ít người nghĩ đến nguy cơ nhiễm ký sinh trùng này. Nó cũng gây viêm não, màng não, vì thế khi bệnh nhân nhập viện, bác sĩ thường điều trị ngay theo các căn nguyên thông thường, không trúng vào nó nên không hiệu quả. Hậu quả là bệnh nhân bị điều trị muộn, gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh vì bệnh diễn tiến nhanh, nhanh chóng gây tổn thương não, phù não trầm trọng.
Nếu nghĩ đến loại ký sinh trùng này, người ta chọc dịch não tủy và soi ngay lập tức thì sẽ thấy nó. Nếu để lâu thì sẽ không thấy bởi ký sinh trùng này sẽ chết.
Khó khăn nữa là cùng gây biểu hiện viêm não, viêm màng não nhưng việc điều trị lại rất khác biệt. Naegleria fowleri là loài đơn bào, nhạy cảm với các thuốc kháng nấm. Trong khi, các bác sĩ thường điều trị bằng kháng sinh theo căn nguyên thường gặp là vi khuẩn, các loại kháng sinh này lại không đặc hiệu với ký sinh trùng kia.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM cũng cho biết, người dân không nên hoang mang bởi Naegleria fowleri có trong ao hồ, sông ngòi, đầm nước ngọt nhưng khả năng gây bệnh là rất hiếm. Từ năm 2002 đến năm 2011 chỉ có 32 ca được nghi nhận tại Mỹ. Tuy nhiên, khi đã mắc thì tỷ lệ tử vong rất cao, lên đến 99%.
Còn theo tiến sĩ Nguyễn Hoan Phú, Phó trưởng khoa Nhiễm Việt – Anh, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP HCM thì rất khó phòng ngừa amip naegleria vì môi trường sống của loại ký sinh trùng này quá rộng và chưa có phương pháp tiêu diệt.
“Chính vì thế những người sống bằng nghề thường xuyên tiếp xúc với nước sông hồ, ao đầm hoặc các bạn trẻ đi tắm sông hồ, đặc biệt là bị ho sặc trong lúc ngâm mình trong nước thì nên đến bệnh viện khám. Người có triệu chứng cần khai rõ với bác sĩ về việc đã có tiếp xúc với sông nước để được chẩn đoán chính xác hơn”, bác sĩ Phú nói. Cũng theo ông, thời gian ủ bệnh của amip là hai tuần.
Tiến sĩ – Bác sĩ Trần Phủ Mạnh Siêu, Giám đốc Trung tâm Y tế Dự phòng TP HCM, chuyên gia ký sinh trùng, cũng cho hay, bệnh xuất hiện trên thế giới nhưng rất rải rác và không phát triển thành dịch.
Triệu chứng lâm sàng chính của bệnh nhân thường là sốt nhẹ, đau đầu, cứng cổ. Vào thời kỳ cuối, khi não người bệnh đã bị phá huỷ nghiêm trọng, bệnh nhân có triệu chứng tâm thần, thay đổi hành vi, có ảo giác rồi tử vong.
Cũng theo bài viết của bác sĩ Nguyễn Võ Hinh, cách phòng bệnh tốt nhất là chỉ nên tắm, bơi, lặn ở những nơi nước sạch và sử dụng dụng cụ kẹp mũi bảo vệ khi bơi, lặn trong các hồ nước có nguy cơ có mầm bệnh. Hiện nay tại phòng thí nghiệm, các nhà khoa học đã tìm ra được loại thuốc có thể ngăn chặn Naegleria fowleri nhưng chưa điều trị thành công được một trường hợp nào trên các bệnh nhân bị nhiễm ký sinh trùng này.

Tổng hợp theo vnexpress

Monday, April 23, 2012

Bệnh béo phì ở trẻ

Béo phì là ăn bệnh đang ngày một gia tăng, đặc biệt ở những thành phố lớn. Không chỉ những trẻ bụ bẫm mới bị béo phì. Ở trẻ nhỏ suy dinh dưỡng, nguy cơ béo phì sau đó sẽ cao hơn bạn bè cùng lứa có cân nặng bình thường ít nhất là gấp đôi.
Triệu chứng bé bị bệnh béo phì:
Một đứa trẻ được xem là béo phì, hay nặng cân quá khi nó nặng hơn mức trung bình so với chiều cao và độ tuổi từ 20% trở lên. Nếu con số đấy vượt quá 40% thì thường bác sĩ sẽ khuyến cáo bé tham gia vào chương trình giảm cân đặc biệt dưới sự hướng dẫn của bác sĩ. Cách tốt nhất để xem trẻ có béo phì hay không là nhìn hai cánh tay và bắp đùi đứa trẻ: Nếu có những cuốn mỡ ngấn lên thì khả năng đứa trẻ là béo phì.
Chứng béo phì ở trẻ em rất nghiêm trọng. Những đứa trẻ béo phì có khuynh hướng lớn lên sẽ trở thành những người béo mập có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái đường, ung thư, ngừng thở khi ngủ và rối loạn về khớp xương…
Ngoài ra thì trẻ có thể không tự tin nếu như chúng bị bạn bè trêu đùa hay bị bỏ tẩy chay khỏi các trò chơi tập thể. Để giúp trẻ tự tin hơn, bạn hãy tìm cho trẻ những người bạn tốt có thể chấp nhận chúng một cách bình thường, tạo cơ hội cho trẻ tham gia các trò chơi mà chúng ưa thích.
Nguyên nhân gây béo phì ở trẻ:
Có nhiều yếu tố dẫn đến thừa cân, béo phì. Trong đó, phổ biến nhất là tình trạng năng lượng khẩu phần vượt quá nhu cầu, nhất là năng lượng do chất béo và bột, đường cung cấp. Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nguy cơ thừa cân – béo phì cao hơn trẻ bú mẹ, vì thức ăn nhân tạo giàu protein và muối, làm tăng áp lực thẩm thấu, gây cảm giác khát, kích thích trẻ ăn nhiều hơn.
Giảm hoạt động thể lực cũng là yếu tố nguy cơ cao của thừa cân, béo phì. Hiện có nhiều trẻ không tham gia thể dục thể thao, ít đi bộ, đi xe đạp… mà dành nhiều thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem vô tuyến, chơi điện tử. Theo một số nghiên cứu, trong khi xem vô tuyến, sự trao đổi chất giảm đáng kể.
Ngủ ít cũng gây béo vì làm giảm tiêu mỡ (quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh mối liên quan giữa thời gian ngủ ngắn với chứng béo phì.
Tuy chưa chứng minh được đầy đủ vai trò của di truyền đối với chứng thừa cân, béo phì nhưng thực tế cho thấy, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những đứa trẻ có cha hoặc mẹ nặng cân, đặc biệt là khi cả cha mẹ đều béo.
Cân nặng quá cao lúc đẻ cũng là yếu tố nguy cơ dẫn đến béo phì. Sự mất cân bằng trong chế độ ăn của mẹ khi mang thai sẽ tạo nên tình trạng dư thừa mỡ ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trẻ nhẹ cân sẽ hoàn toàn thoát khỏi nỗi lo này. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, trẻ 3-9 tuổi bị suy dinh dưỡng, thấp còi sẽ có nguy cơ thừa cân, béo phì cao gấp 2-8 lần so với trẻ không bị thấp còi. Nguyên nhân có thể là trẻ suy dinh dưỡng mạn tính có khối nạc thấp, chuyển hóa cơ bản và hoạt động thể lực giảm. Khi cung được cấp đủ năng lượng, trẻ sẽ tích luỹ mỡ rất nhanh.
Điều trị bệnh béo phì:
Phòng bệnh bao giờ cũng hơn chữa bệnh. Để dự phòng thừa cân và bép phì, cần chăm sóc tốt cho trẻ từ trong bào thai để tránh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh.Cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chỉ cai sữa sau 2 năm. Nếu phải nuôi bằng sữa bột, không nên sử dụng thêm đường hay tinh bột. Khi trẻ ăn dặm, thức ăn phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết để giúp tăng trưởng tối đa.
Khi trẻ đã bị béo phì thì phụ huynh nên:
  • Tham khảo ý kiến bác sĩ để biết được cân nặng phù hợp nhất cho trẻ dựa trên chiều cao, độ tuổi, vóc dáng và giới tính của trẻ. Nếu được bác sĩ khuyến cáo thì trẻ nên tham gia vào chương trình giảm cân dặc biệt.
  • Xác định đúng nguyên nhân gây béo phì cho trẻ để tìm phương pháp thích hợp.
  • Đảm bảo rằng trẻ vẫn có chế độ ăn cân bằng với đủ vitamin và khoáng chất. Giảm bớt bột,dầu mỡ,đường tinh luyện trong nấu ăn. Tránh bánh ngọt, bánh quy, kẹo và các loại nước ngọt có đường. Không nên vội vàng cắt khẩu phần ăn của trẻ mà phải luyện tập từ từ, kiên nhẫn.
  • Khuyến khích trẻ uống nhiều nước.
  • Cho trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời. Hạn chế thời gian xem TV và chơi game của trẻ.
  • Ðừng nhốt một đứa trẻ lẫm chẫm biết đi vào một cái cũi hoặc một chiếc ghế đẩy. Hãy để cháu tiêu hao năng lượng bằng cách bò hoặc tập đi. Ðối với các cháu lớn, nên tập cho các cháu chơi những trò chơi sống động.
Yeutre.net-Tonghop

Phòng tránh các bệnh về mùa hè

Vào giai đoạn này, những bệnh như say nắng, tiêu chảy, viêm mũi – họng, tả, lỵ, thương hàn, viêm não... đang vào mùa nhưng nếu biết phòng ngừa, chúng ta sẽ hạn chế được hậu quả

Ngoài sốt xuất huyết và các bệnh đường hô hấp (như cảm cúm, cảm lạnh, viêm tai mũi họng, viêm phổi), các bệnh về da (như nấm kẽ, nấm móng, hắc lào, ghẻ lở, bệnh lây qua đường tình dục) thì vào mùa hè, chúng ta còn thường mắc các loại bệnh như say nắng, say nóng; các bệnh đường tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu biết phòng ngừa và xử lý ban đầu sẽ hạn chế được rất nhiều về hậu quả.
Say nóng, say nắng
Cơ chế gây bệnh chung là do quá nóng gây ra và thường gặp ở những nơi tập trung đông người như công trường, xí nghiệp, hầm mỏ, hầm tàu, nhà máy... Biểu hiện của bệnh này là rối loạn sinh lý, hao hụt nước, sinh tố B, C... (đặc biệt là muối natri clorua).
Nếu bệnh đang ở thể nhẹ, người say nóng, say nắng sẽ rối loạn chuyển hóa nước, tuần hoàn, hô hấp; mất thăng bằng, chóng mặt, buồn nôn... Ở thể nặng, sẽ rối loạn nội tiết, tiêu hóa, cảm giác đắng miệng, ù tai, hoa mắt; cao hơn nữa là ức chế thần kinh trung ương, phù phổi, da xanh tím, mạch nhanh và nhỏ, huyết áp hạ, sùi bọt mép, co giật, hôn mê và rất dễ dẫn đến tử vong.
Bệnh nhi điều trị cảm cúm tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 - TPHCM. Ảnh: NGUYỄN THẠNH
Khi phát hiện có người bị say nắng, say nóng, phải nhanh chóng đưa nạn nhân về nơi yên tĩnh, thoáng mát, tạo điều kiện cho da thanh thoát, dễ toát mồ hôi, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý...
Các bệnh đường tiêu hóa
Mùa hè nóng bức, thức ăn dễ ôi thiu, nhiều loại vi khuẩn phát sinh, phát triển có thể gây bệnh tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy...
Nguồn gốc của bệnh có thể nhận thấy dễ dàng ở nguồn nước bị nhiễm bẩn, thức ăn uống không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, kèm theo đó là thói quen uống nước lã, ăn gỏi cá, quả xanh, tiết canh, thức ăn để ruồi bâu, kiến đậu...
Một khi bị tiêu chảy, nôn ói, đau bụng... dù bất cứ nguyên nhân nào cũng phải cho người bệnh uống nước oresol hoặc nước cháo, nước trái cây... Đặc biệt, không nên nhịn uống nước khi bị tiêu chảy, nôn ói.
Mùa hè cũng là mùa thường xảy ra là điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh đường tiêu hóa thành dịch. Vì vậy, cần nên ăn chín uống sôi, giữ gìn vệ sinh cá nhân, thanh khử khuẩn tốt các nguồn nước và vệ sinh môi trường khi mưa lũ tan đồng thời thông cống rãnh, giám sát chặt chẽ vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường...
Năm nguyên tắc phòng ngừa
Để phòng ngừa các bệnh mùa hè có hiệu quả, chúng ta cần lưu ý 5 nguyên tắc sau đây:
- Tắm gội hằng ngày, tránh để ngứa ngáy, khó chịu do bụi bặm, mồ hôi ứ đọng, nhất là với trẻ em; thay quần áo mỗi khi bị mưa ướt hay ra nhiều mồ hôi, nhất là với những trẻ hiếu động; không để trẻ gãi hay “giết” rôm (sảy) để tránh làm tổn thương da, nhiễm trùng da.
- Uống đủ nước khi làm việc hay đi học trong những ngày nắng nóng; đội nón hoặc mũ rộng vành để tránh say nắng.
- Không uống nhiều nước đá, không ăn thức ăn quá lạnh.
- Không để quạt điện thổi thẳng vào người, nhất là trẻ nhỏ, vì sẽ dễ bị cảm lạnh; không bật quạt lúc đi nằm sau khi vừa tắm xong; không đột ngột ra – vào phòng có gắn máy điều hòa đang hoạt động để tránh cảm lạnh. Với người bệnh cao huyết áp càng phải thận trọng hơn.
- Chăm lo đến ăn uống vì trong thời tiết nóng bức, cơ thể mệt mỏi, mồ hôi ra nhiều làm mất nhiều muối khoáng (chất điện giải) gây giảm độ toan của dịch vị sinh chán ăn. Khi ăn ít, uống nước nhiều, dịch vị đã ít lại bị pha loãng làm khả năng sát khuẩn giảm sút, vi sinh vật gây bệnh có cơ hội xâm nhập đường tiêu hóa và gây bệnh.
Pha muối ăn vào nước uống để phòng say nắng
Để phòng chống say nóng, say nắng, tại nơi làm việc và sinh hoạt không để sức nóng ảnh hưởng đến cơ thể quá lâu. Cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt, ở nơi thoáng mát, ăn uống các chất mát, dễ tiêu, hợp vệ sinh. Không uống rượu và các chất gây kích thích. Lao động ngoài trời phải đội mũ rộng vành, có lán che nắng, mặc áo quần rộng, màu sáng, lao động hợp lý; có nước uống vệ sinh pha thêm chút muối ăn để tăng cường các chất vi lượng, đặc biệt là sinh tố B, C, PP...
Bác sĩ VĂN TRUNG (Bệnh viện Nhi Trung ương)

Nguyên nhân khiến trẻ bị tiêu chảy

Trẻ em rất dễ bị tiêu chảy bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Biết được rõ nguyên nhân hoặc tham khảo những thông tin sau sẽ có ích cho mẹ trong quá trình mô tả triệu chứng của con khi gặp bác sỹ…

Nhiễm trùng do vi khuẩn

Vi khuẩn – như khuẩn salmonela, khuẩn shigella, khuẩn tụ cầu, … – cũng là nguyên nhân của bệnh tiêu chảy. Nếu bé bị nhiễm trùng do vi khuẩn thì bé có thể bị tiêu chảy nghiêm trọng, cùng với triệu chứng chuột rút, máu trong phân và sốt (bé có thể bị nôn hoặc không).
Một số sự nhiễm trùng do vi khuẩn có thể tự phát hiện, nhưng một số, như vi khuẩn E. coli lại có thể được tìm thấy trong thịt chưa được nấu chín và một số loại thực phẩm khác, có thể rất nguy hiểm. Nếu bé có những triệu chứng như trên hãy đưa bé đến bác sĩ. Bác sĩ sẽ kiểm tra và có thể xét nghiệm mẫu phân để phát hiện ra nhiễm trùng do vi khuẩn.

Nhiễm trùng tai

Trong một số trường hợp, việc nhiễm trùng tai (có thể do virus hoặc vi khuẩn) có thể là thủ phạm gây ra bệnh tiêu chảy. Không chỉ đau tai, bé có thể buồn nôn, nôn và kém ăn; bé cũng có thể bị cảm lạnh
Thuốc nhỏ tai hay khăn chườm ấm cũng có thể giúp bé xoa dịu cơn đau tai. Nhưng đối với trẻ dưới 2 tuổi, bạn nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi áp dụng bất kì loại thuốc nào cho trẻ.
Bên cạnh đó, bạn cũng có thể nâng đầu bé lên khi bé đang nằm để xoa dịu cơn đau. Nhưng không nên sử dụng gối vì nó có thể gây ngạt thở cho trẻ. Thay vì thế,bạn có thể đặt một vật gì dưới đệm, để nâng cao đệm lên.

Thực vật ký sinh

Nhiễm trùng do thực vật ký sinh cũng có thể dẫn tới bệnh tiêu chảy. Ví dụ như Giardiasis có nguyên nhân từ thực vật ký sinh cực nhỏ sống trong ruột.
Nếu bé bị nhiễm trùng do thực vật ký sinh, bé có thể bị tiêu chảy, sưng, đầy hơi, buồn nôn, chuột rút. Những loại nhiễm trùng này thường dễ lan truyền trong những trường hợp chăm sóc theo nhóm, và cách điều trị liên quan tới vấn đề y tế đặc biệt. Vì thế bé cần đến gặp bác sĩ.

Thuốc kháng sinh

Nếu trẻ bị tiêu chảy trong và sau khi dùng thuốc kháng sinh thì điều này có thể liên quan tới vấn đề vấn đề thuốc uống, thuốc mà có thể giết những vi khuẩn có lợi trong ruột cùng với những vi khuẩn có hại. Hãy nói với bác sĩ về biện pháp chữa trị nhưng không nên dừng việc cho trẻ uống thuốc đã được kê đơn cho đến khi bác sĩ có chỉ dẫn khác.

Quá nhiều nước ép

Quá nhiều nước ép (đặc biệt là nước trái cây có chứa socbito và hàm lượng cao frutoza) hoặc quá nhiều đồ uống ngọt có thể không có lợi cho dạ dày của trẻ và khiến trẻ không đi đại tiện được. Giảm lượng nước ép và nước uống có đường sẽ giải quyết được vấn đề này trong 1 tuần hoặc hơn.

Dị ứng thức ăn

Dị ứng thức ăn (hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng với những chất protein vô hại trong thức ăn) có thể gây ra một vài phản ứng nghiêm trọng – ngay lập tức hoặc trong vòng vài giờ. Các triệu chứng có thể gồm tiêu chảy, đầy bụng, đau bụng và phân có máu. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, dị ứng có thể dẫn tới phát ban, sưng tấy và khó thở. Gọi bác sĩ nếu trẻ có vấn đề về thở hoặc mặt/ môi trẻ bị sưng.
Chất protein trong sữa là kiểu dị ứng thường gặp nhất. Những loại khác bao gồm trứng, đậu phộng, đậu nành, lúa mì, cá và những động vật có vỏ.

Không chịu được thức ăn

Không giống như dị ứng thức ăn, việc không chịu được thức ăn là một phản ứng bất thường có thể không liên quan đến hệ miễn dịch. Một ví dụ là việc không chịu được lactoze. Nếu trẻ không chịu được lactoze thì điều đó có nghĩa là cơ thể trẻ không sản sinh ra đủ lactaza, một loại enzim cần thiết để tiêu hóa lactoze, một loại đường trong sữa bò và các sản phẩm từ sữa khác. Khi lactoze không tiêu hóa được có trong ruột thì nó có thể gây ra các triệu chứng như tiêu chảy, đau bụng, sưng tấy và đầy hơi. Các triệu chứng thường xuất hiện từ ½ – 2 giờ sau khi trẻ ăn các sản phẩm từ sữa.

Ngộ độc

Nếu trẻ bị tiêu chảy và nôn, và bạn nghĩ rằng trẻ có thể đã nuốt phải một thứ gì đó như dược phẩm, hãy gọi ngay bác sĩ. Những triệu chứng khác có thể bao gồm không thở được, mệt mỏi, co giật và mất phương hướng
Tổng hợp

Friday, March 16, 2012

Bệnh tay chân miệng: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh tay chân miệng: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%). Bệnh có thể bị rải rác hoặc bùng phát thành các vụ dịch nhỏ vào mùa hè ởnhững nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém.
Biểu hiện của bệnh là những mụn nước, bọng nước ở tay, chân và miệng. Rất nhiều bệnh nhân được chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác như chốc, thuỷ đậu, dị ứng,… dẫn đến điều trị sai lầm và làm bệnh lan tràn.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TAY CHÂN MIỆNG:

- Bệnh tay-chân-miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16Enterovirus 71 (EV71). Biểu hiện chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71.
- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.
- Bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
- Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG:

1. Lâm sàng:
1.1. Triệu chứng lâm sàng:
a) Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.
b) Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.
c) Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:
- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi.
- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm.
- Sốt nhẹ.
- Nôn.
- Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.
- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.
d) Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.
1.2. Các thể lâm sàng:
- Thể tối cấp: Bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê co giật dẫn đến tử vong trong vòng 48 giờ.
- Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình như trên.
- Thể không điển hình: Dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.
2. Cận lâm sàng:
2.1. Các xét nghiệm cơ bản:
- Công thức máu: Bạch cầu thường trong giới hạn bình thường.
- Protein C phản ứng (CRP) (nếu có điều kiện) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L).
2.2. Các xét nghiệm theo dõi phát hiện biến chứng:
- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi.
- Khí máu khi có suy hô hấp
- Troponin I, siêu âm tim khi nhịp tim nhanh ≥ 150 lần/phút, nghi ngờ viêm cơ tim hoặc sốc.
- Dịch não tủy:
+ Chỉ định chọc dò tủy sống khi có biến chứng thần kinh.
+ Xét nghiệm protein bình thường hoặc tăng nhẹ, số lượng tế bào trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Trong giai đoạn sớm có thể tăng bạch cầu từ 100-1000 bạch cầu/mm3, với tỉ lệ đa nhân chiếm ưu thế.
- Chụp cộng hưởng từ não: Tổn thương tập trung ở thân não. Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh.
2.3. Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân do EV71 hay Coxsackievirus A16.
3. Chẩn đoán xác định: Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học.
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.
- Lâm sàng: Sốt kèm theo phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.
- Xét nghiệm xác định có vi rút gây bệnh.
4. Chẩn đoán phân biệt:
4.1. Các bệnh có biểu hiện loét miệng:
Viêm loét miệng (áp-tơ): Vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát.
4.2. Các bệnh có phát ban da:
- Sốt phát ban: hồng ban xen kẽ ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai.
- Dị ứng: hồng ban đa dạng, không có phỏng nước.
- Viêm da mủ: Đỏ, đau, có mủ.
- Thuỷ đậu: Phỏng nước nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.
- Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: mảng xuất huyết hoại tử trung tâm
- Sốt xuất huyết Dengue: Chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.
4.3. Viêm não-màng não:
- Viêm màng não do vi khuẩn
- Viêm não-màng não do vi rút khác

III. BIẾN CHỨNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG:

1. Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não.
- Rung giật cơ (myoclonic jerk): Từng cơn ngắn 1-2 giây, chủ yếu ở tay và chân, trong cơn trẻ vẫn còn ý thức.
- Ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược.
- Yếu liệt chi (liệt mềm cấp).
- Liệt dây thần kinh sọ não.
- Co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn.
2. Biến chứng tim mạch, hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch.
- Mạch nhanh > 150 lần/phút.
- Thời gian đổ đầy mao mạch chậm trên 3 giây.
- Da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh.
- Giai đoạn đầu có huyết áp tăng (HA tâm thu: trẻ dưới 2 tuổi ≥ 115 mmHg, trẻ trên 2 tuổi ≥ 120 mmHg), giai đoạn sau mạch, huyết áp không đo được.
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, thở rít thanh quản, thở không đều.
- Phù phổi cấp: Sùi bọt hồng, khó thở, tím tái, phổi nhiều ran ẩm.
Phân độ lâm sàng:
1. Độ 1: Chỉ loét miệng và/hoặc tổn thương da.
2. Độ 2: Biến chứng thần kinh hoặc tim mạch mức độ trung bình.
Rung giật cơ: Kèm theo 1 trong các dấu hiệu sau:
- Đi loạng choạng.
- Ngủ gà.
- Yếu liệt chi.
- Mạch nhanh >150 lần/phút (khi trẻ nằm yên và không sốt).
- Sốt cao ≥ 39o5C (nhiệt độ hậu môn).
3. Độ 3: Biến chứng nặng về thần kinh, hô hấp, tim mạch.
- Co giật, hôn mê (Glasgow < 10 điểm).
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, SpO2 < 92% (không oxy hỗ trợ).
- Mạch nhanh >170 lần/phút hoặc tăng huyết áp.
4. Độ 4: Biến chứng rất nặng, khó hồi phục
- Phù phổi cấp.
- Sốc, truỵ mạch.
- SpO2 < 92% với oxy qua gọng mũi 6 lít/phút.
- Ngừng thở.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG:

1. Nguyên tắc điều trị:
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm).
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.
2. Điều trị cụ thể:
2.1. Độ 1: Điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở.
- Dinh dưỡng đầy đủ theo tuổi. Trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ.
- Hạ sốt khi sốt cao bằng Paracetamol liều 10 mg/kg/lần (uống) mỗi 6 giờ hoặc lau mát.
- Vệ sinh răng miệng.
- Nghỉ ngơi, tránh kích thích.
- Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 5-10 ngày đầu của bệnh
- Dặn dò dấu hiệu nặng cần tái khám ngay:
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Thở nhanh, khó thở.
+ Rung giật cơ, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ.
+ Co giật, hôn mê.
+ Yếu liệt chi.
+ Da nổi vân tím.
- Chỉ định nhập viện:
+ Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp (từ độ 2).
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Nôn nhiều.
+ Nhà xa: không có khả năng theo dõi, tái khám.
2.2. Độ 2: Điều trị nội trú tại bệnh viện huyện hoặc tỉnh
- Điều trị như độ 1.
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút khi có thở nhanh.
- Chống co giật: Phenobarbital 10 mg/kg/lần tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch. Lặp lại sau 6-8 giờ khi cần.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, mạch mỗi 4- 6 giờ.
- Đo độ bão hòa oxy SpO2 và theo dõi mạch liên tục (nếu có máy).
2.3. Độ 3: Điều trị nội trú tại bệnh viện tỉnh hoặc bệnh viện huyện nếu đủ điều kiện.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút. Đặt nội khí quản giúp thở sớm khi thất bại với thở oxy.
- Chống phù não (xem điều trị biến chứng).
- Chống co giật: Phenobarbital 10-20mg/kg pha trong Glucose 5% truyền tĩnh mạch trong 30- 60 phút. Lặp lại 8-12 giờ nếu cần.
- Hạ đường huyết: Glucose 30% 2 ml/kg/lần, lặp lại khi cần.
- Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm.
- Dobutamin được chỉ định khi suy tim mạch > 170 lần/phút, liều khởi đầu 5µg/kg/phút truyền tĩnh mạch, tăng dần 1-2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có cải thiện lâm sàng; liều tối đa 10µg/kg/phút.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, SpO2, mỗi 1- 2 giờ.
2.4. Độ 4: Điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương, hoặc bệnh viện tỉnh, huyện nếu đủ điều kiện.
- Xử trí tương tự độ 3.
- Điều trị biến chứng (xem phần điều trị các biến chứng).
3. Điều trị các biến chứng:
3.1. Phù não:
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 1- 4 lít/phút. Đặt nội khí quản sớm để giúp thở khi SpO2 < 92% hay PaCO2 > 50 mmHg.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25-35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90-100 mmHg.
- Hạn chế dịch: tổng dịch bằng 1/2-3/4 nhu cầu bình thường.
3.2. Sốc: Sốc do viêm cơ tim hoặc tổn thương trung tâm vận mạch ở thân não.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút.
- Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung ương.
- Truyền dịch Natri clorid 0,9% hoặc Ringer lactat: 5 ml/kg/15 phút, điều chỉnh tốc độ theo hướng dẫn CVP và đáp ứng  lâm sàng. Trường hợp không có CVP cần theo dõi sát dấu hiệu quá tải, phù phổi cấp.
- Dopamin là thuốc được chọn lựa, liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 10 µg/kg/phút. Trường hợp không đáp ứng với Dopamin phối hợp Dobutamin liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 20 µg/kg/phút.
3.3. Suy hô hấp: Suy hô hấp do phù phổi cấp, hoặc viêm não.
- Thông đường thở: hút sạch đờm rãi.
- Thở oxy 3- 6 lít/phút, duy trì SpO2 > 92%.
- Đặt nội khí quản nếu có cơn ngừng thở hoặc thất bại với thở oxy.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25- 35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90- 100 mmHg.
3.4. Phù phổi cấp:
- Ngừng ngay dịch truyền nếu đang truyền dịch.
- Dùng Dobutamin liều 5-20 µg/kg/phút.
- Furosemide 1-2 mg/kg/lần tiêm tĩnh mạch chỉ định khi quá tải dịch.
4. Immunoglobulin (nếu có):
- Chỉ định từ độ 2 và độ 3.
- Liều: 1g/kg/ngày  truyền tĩnh mạch trong 6- 8 giờ x 2 ngày liên tiếp.
- Riêng độ 2 cần đánh giá lại lâm sàng trước chỉ định liều thứ 2. Không dùng liều 2 nếu lâm sàng cải thiện tốt.

5. Kháng sinh:
- Kháng sinh không có chỉ định trong bệnh tay-chân-miệng.
- Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm.
- Có thể dùng các kháng sinh sau đây:
+ Amoxicillin
+ Cephalosporin thế hệ 3:
Cefotaxim 200 mg/kg/ngày chia 4 lần (tĩnh mạch)
Hoặc Ceftriaxon 100 mg/kg/ngày chia 1-2 lần (tĩnh mạch)

V. PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG:

1. Nguyên tắc phòng bệnh:
- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu.
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.
2. Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:
- Cách ly theo nhóm bệnh.
- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc.
- Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2%.
- Xử lý chất thải theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá.
3. Phòng bệnh ở cộng đồng:
- Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt).
- Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà.
- Lau sàn nhà bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B 2%.
- Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh.

Wednesday, February 22, 2012

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra lây truyền rất nhanh. Thuỷ đậu có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.


1. Thủy đậu là gì? Nguyên nhân gây bệnh?
Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra rất thường gặp ở trẻ em. Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster. Đa số trẻ em đều đã bị thuỷ đậu trước 15 tuổi, nhiều nhất từ 5 đến 9 tuổi, tuy nhiên bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thuỷ đậu thường nặng hơn khi xảy ra ở người lớn và ở trẻ còn nhỏ. Mùa đông xuân là thời gian các trường hợp thuỷ đậu xảy ra nhiều nhất.
2. Thủy đậu lây lan như thế nào?
Thuỷ đậu lây truyền rất nhanh. Nó rất dễ lây lan giữa các thành viên trong gia đình và giữa các học sinh cùng trường khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước và vết lở trên da người bệnh. Nó còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp. Bệnh nhân có thể truyền bịnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước khô vảy.
3. Triệu chứng và dấu hiệu của thủy đậu?
Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ 10 đến 21 ngày. Thuỷ đậu biểu hiện bằng sốt nhẹ từ một đến 2 ngày, cảm giác mệt mỏi toàn thân, và phát ban (thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh).
Một số rất ít trường hợp, bệnh nhân có thể bị bệnh mà không thấy phát ban. Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu, sau đó phát triển thành mụn nước, vỡ ra thành vết lở, rồi đóng vảy. Thường phát ban đầu tiên ở da đầu, xuống thân mình (nơi ban trổ nhiều nhất), sau cùng xuống đến tay chân. Những phần da nào sẵn bị kích ứng như hăm tã, eczema, cháy nắng v.v. thường bị ban thuỷ đậu tấn công nặng nhất. Ban thuỷ đậu thường rất ngứa.
4. Điều trị thủy đậu ra sao?
- Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn. Có thể dùng Acetaminophen (Tylenol) để giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).
- Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.
- Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa. Hãy bàn luận với bác sĩ về các chọn lựa trong điều trị.
- Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.
Sau cùng, đối với một số trường hợp thuỷ đậu có thể dùng Acyclovir. Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh. Thuốc chỉ hiệu quả nếu được dùng sớm, trong thời gian từ 1 đến 2 ngày khi bắt đầu phát ban thuỷ đậu. Acyclovir thường được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh kèm theo nguy hiểm (ví dụ lupus, đái tháo đường, người cao tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch).
5. Các biến chứng có thể xảy ra?

- Thuỷ đậu có thể gây biến chứng. Khi các mụn nước vỡ ra và bị nhiễm trùng có thể gây sẹo xấu, đặc biệt khi bệnh nhân gãi nhiều ở vùng tổn thương.
- Nhiễm trùng da là biến chứng của thuỷ đậu thường gặp nhất ở trẻ em.
- Biến chứng khác thường gặp là tổn thương thần kinh trung ương bao gồm những rối loạn ở tiểu não (rối loạn thất điều tiểu não, chóng mặt, run, rối loạn ngôn ngữ), viêm não (nhức đầu, co giật, rối loạn ý thức), tổn thương thần kinh (liệt thần kinh) và hội chứng Reye (kết hợp tổn thương gan và não khả năng gây tử vong, có thể xảy ra do dùng aspirin ở trẻ em).
- Các biến chứng đặc biệt nặng có thể xảy ra trên bệnh nhân AIDS, lupus, bịnh bạch cầu, và ung thư. Biến chứng còn xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, như các corticoid. Trẻ sơ sinh có mẹ bị thuỷ đậu ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ chịu những nguy cơ cao của bệnh. Nếu mẹ phát bệnh thuỷ đậu 5 ngày trước hoặc 2 ngày sau khi sanh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh có thể lên đến 30%.
6. Thủy đậu có thể phòng ngừa bằng vaccin?
Người đã bị thuỷ đậu sẽ có miễn dịch suốt đời và không bao giờ bị lại. Nhưng nhiều khi về sau, virus có thể bộc phát lên bề mặt trở lại dưới dạng zona (giời leo). Mục tiêu hiện nay của nhiều nước trên thế giới là làm sao tiêm phòng thuỷ đậu cho hầu hết các trẻ em. Chỉ cần tiêm 2 mũi. Mũi đầu tiên tiêm lúc trẻ 1 tuổi và mũi thứ hai (tiêm nhắc lại) lúc 4 tuổi. Đối với người lớn chưa bị thuỷ đậu, có thể tiêm phòng vào bất cứ lúc nào. Phản ứng phụ khi tiêm phòng thuỷ đậu xảy ra không đáng kể. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch, đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH
Tham khảo: Medicine Net

Ung thư cổ tử cung: Y học bó tay nếu chữa muộn

Khoa Nội 1, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, không khí trong phòng hoá trị ảm đạm với hơn 10 bệnh nhân đang truyền hoá chất. Biết không còn sống được lâu vì căn bệnh quái ác đã ở giai đoạn 4, chị Mầu chỉ còn nước phó thác cho bác sĩ. Giá như được phát hiện sớm, mọi việc đã khác.


“Sau khi mãn kinh 7-8 tháng, tôi thấy ra huyết, dù ít nhưng dai dẳng nên mới đi khám. Ai ngờ bị ung thư vì biểu hiện chỉ là ngồi lâu thấy thốn thốn ở bụng dưới..”, người phụ nữ buồn rầu kể lại.
Chị là Vũ Thị Mầu, 53 tuổi, người Minh Hải, Bạc Liêu. Nhập viện 2 tuần trước, chị được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến xa, di căn thận trái. Ổ bệnh không còn nằm khu trú, nên những can thiệp bằng xạ trị và phẫu trị đều vô nghĩa. Trước đó, bệnh nhân không biết gì về bệnh K cổ tử cung (K: ung thư), không đi khám phụ khoa sớm. Khi nhập viện, có khái niệm về tình trạng của mình thì đã quá muộn.
Còn ở khoa Xạ 1B, trong một phòng bệnh đông đúc khoảng 40 phụ nữ trung tuổi, chị Phan Thị Xáo, 58 tuổi rất dễ nhận ra với mái đầu nham nhở tóc. Chị Xáo quê Nha Trang, làm nghề bán rau đã nhập viện 5 tháng. Sau khi xạ 25 tia, mỗi tia 50 nghìn đồng, chị đã điều trị hai toa hoá chất, tốn khoảng 1 triệu đồng. “Di căn rồi nên nó chạy, nhức cả bả vai xuống tận nách. Ngày nhức nhiều hơn đêm. Có thuốc vô ói nhưng phải ráng ăn thôi”, chị Xáo nói.
Giọng chị buồn buồn: “Sau mãn kinh khoảng 6 tháng, rày có một hôm tự nhiên ra cái ào cả hai cục huyết đỏ tươi, to bằng lòng bàn tay, sợ quá mới đi bác sĩ. Nằm ở Bệnh viện Từ Dũ rồi họ thấy ra nhiều quá nên mới chuyển sang đây. Ở dưới quê chỉ thấy có bệnh mới đi chữa”.
Cá biệt, trường hợp bệnh nhân Huỳnh Thị Tuyết Loan, mới 15 tuổi, quê Tiền Giang, gia đình làm rẫy. Loan chưa có chồng, là con út trong 6 anh em, vẫn còn đi học. Do bị rong kinh nhiều tháng, huyết trắng đục, gia đình mới đưa em đi khám bệnh viện huyện, uống thuốc nhiều không khỏi mới chuyển lên bệnh viện Triều An, cuối cùng về đây. “Kim 6 lần rồi. Người ta có chồng, chửa rồi thì đỡ hơn, trong khi em vẫn là con gái, đau ráng chịu, không chịu không ai giúp được mình. Em nghĩ cả thế giới không ai bất hạnh hơn em”, Loan rưng rưng nói.
Lý giải về giai đoạn bệnh, thạc sĩ Lưu Văn Minh, Trưởng khoa Xạ 1B, cho hay, ung thư cổ tử cung có 4 giai đoạn. Giai đoạn sớm (0): tiền ung thư, hoặc ung thư tại chỗ, chỉ khu trú ở cổ tử cung. Giai đoạn từ 1B-2A: ung thư xâm lấn thân tử cung, âm đạo, hoặc toàn bộ vùng quanh tử cung. Giai đoạn 2B-4A, ung thư ăn đến các cơ quan gần: bàng quang, trực tràng. Cuối cùng, giai đoạn 4B, đã di căn xa như phổi, não, gan, xương. Theo tiêu chuẩn Tổ chức y tế thế giới, bước vào 1A đã là muộn để điều trị.
Đáng tiếc, giai đoạn 0: tiền ung thư, số bệnh nhân tìm đến được bệnh viện kịp thời quá hiếm hoi. Trong khi lúc này, hiệu quả điều trị bằng phẫu, xạ trị đạt trên 95%. “Bệnh nhân không cảnh giác vì triệu chứng mơ hồ, trong khi người Việt Nam không có thói quen đi khám phụ khoa để tầm soát. Đến khi thấy xuất hiện dấu hiệu bất thường thì đã ở giai đoạn ung thư xâm lấn”, ông Minh cho biết.
Bước vào giai đoạn bệnh nặng hơn là khi triệu chứng xuất hiện: xuất huyết âm đạo bất thường: khi đã mãn kinh, sau giao hợp, giữa hai kỳ kinh, hoặc rong kinh nhiều lần, lượng lớn. Theo bác sĩ Minh, giai đoạn này vẫn còn cơ may chữa khỏi đến 70-80%. Tỷ lệ chỉ còn 40-60% nếu bệnh nhân đến trễ hơn, với các triệu chứng đau nhức vùng chậu, hạ chi, phù nề, xạ và phẫu trị đã không còn hiệu quả. Giai đoạn cuối cùng, 4B, di căn xa thì hầu như không thể chữa khỏi, chỉ dùng hoá chất giảm sự tiến triển của bệnh.
Hiện nay, ở bệnh viện Ung Bướu, đa số bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn muộn. Ở hai khoa Xạ 1B và Xạ 1A, đã có gần 200 bệnh nhân nội trú, gần 160 ngoại trú ung thư cổ tử cung. Còn theo khảo sát của bác sĩ Dương Thanh Hồng, Phó trưởng khoa Nội 1, hoá trị cho trường hợp ung thư di căn xa, khoảng 40% số bệnh nhân K cổ tử cung điều trị đã ở giai đoạn quá trễ, dưới 10% sống thêm 5 năm. Số ca ung thư cổ tử cung xấp xỉ 30-40% trong tổng số gần 1.000 bệnh nhân,160 người nội trú hiện đang điều trị.
Điều đáng nói là sự chậm trễ chết người lại do chính người bệnh gây ra. Theo bác sĩ Hồng, ngoài trường hợp thờ ơ với việc khám phụ khoa, có người dù dấu hiệu rõ ràng vẫn đến muộn do tập quán tự chữa ở nhà, ngại đến cơ sở y tế, làm trễ thời gian điều trị. Bác sĩ Hồng gặp trường hợp bệnh nhân thấy ra máu, bèn đắp thuốc đen thui như thuốc rê, nhét sâu vào âm đạo. “Lúc khám, tôi phải lôi từng cục mủn mủn ra, rửa bằng nước muối sinh lý, trong khi cổ tử cung người này đang loét tùm lum, sùi, chảy máu..”, chị Hồng kể.
Còn theo bác sĩ Minh, khi thấy triệu chứng như xuất huyết âm đạo, huyết trắng, phụ nữ nông thôn nghĩ chỉ do nóng trong người, bị “tước”, bèn đi thày lang, chữa bằng uống… thuốc lá, xông vào cửa mình. Có người dùng rắn đặt vào trong âm đạo. Có người uống nước tiểu, hoặc đến khu vườn chữa bệnh ở Long An, nằm chơi, không uống thuốc. “Do đó, người bệnh ra máu nhiều hơn, băng huyết, đau nhức, hết cách trị mới đến cơ sở y tế”, ông Minh bức xúc.
Về vấn đề này, Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, Phó Chủ tịch Hội ung thư TP HCM, GS. Nguyễn Chấn Hùng cho rằng, cách duy nhất để kịp thời điều trị ung thư cổ tử cung là phụ nữ trên 30 tuổi nên đi khám tầm soát mỗi năm ít nhất 1 lần ở phòng khám phụ khoa, làm xét nghiệm tế bào âm đạo, tìm ung thư khi còn sớm. Khi có dấu hiệu, bệnh nhân tuyệt đối không tự điều trị bằng phương pháp dân gian, những phương pháp này chưa được chứng minh có thể chữa ung thư, nhưng thực tế làm bệnh thêm trầm trọng.
GS Hùng cho biết thêm: “Ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được, phát hiện sớm, điều trị tốt, dù đây là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ phía Nam. Hiện, thế giới đang nghiên cứu vacxin, hy vọng sẽ có ở Việt Nam 1-2 năm nữa”.
Theo GS. Nguyễn Chấn Hùng, các yếu tố tạo thuận lợi cho ung thư phát sinh: phụ nữ sinh đẻ nhiều, viêm cổ tử cung mãn tính, lấy chồng sớm, nhiều bạn tình…
Mối liên hệ bệnh: cổ tử cung bình thường – viêm cổ tử cung – cổ tử cung bị dị sản – tổn thương tiền ung thư (ung thư tiền xâm lấn hay giai đoạn 0) – ung thư cổ tử cung.
Chị em nên: khám phụ khoa 1 lần/năm, xét nghiệm tế bào âm đạo tầm soát bệnh, giữ gìn vệ sinh vùng kín. Đến cơ sở y tế ngay khi có dấu hiệu lạ: huyết trắng, xuất huyết âm đạo, đau bụng dưới…

Sunday, February 12, 2012

Viêm da dị ứng: Nguyên nhân, biểu hiện và phương pháp chữa trị

Viêm da dị ứng là biểu hiện tổn thương da của một dạng dị ứng. Bệnh có đặc trưng bởi bệnh sử gia đình bị hen, viêm da ở trên 70% trường hợp. Tỷ lệ mắc bệnh viêm da dị ứng đang tăng lên trên khắp thế giới, chẳng hạn tỷ lệ mắc bệnh ở học sinh Na Uy lên đến 23%.

Nguyên nhân viêm da dị ứng

Có nhiều nguyên nhân gây viêm da dị ứng như: Di truyền, khi cả cha và mẹ đều bị viêm da dị ứng thì trên 80% các con đều có biểu hiện bệnh; nếu chỉ có cha hoặc mẹ bị bệnh thì tỷ lệ mắc bệnh của các con là hơn 50%. Một số gen, trong đó có gen mã hóa IgE, là thụ thể IgE ái lực cao, men trytase dưỡng bào và interleukin (IL) 4 được xem là có liên quan đến bệnh viêm da dị ứng. Bệnh nhân có thể có biểu hiện bất thường về điều hòa miễn dịch, gồm có tăng tổng hợp IgE, tăng IgE đặc hiệu với các yếu tố như: thức ăn, dị ứng nguyên không khí, vi khuẩn…; tăng biểu hiện thụ thể IgE ái lực thấp trên bạch cầu đơn nhân to và tế bào B; suy giảm phản ứng quá mẫn cảm kiểu chậm; tăng đáp ứng cytokin loại II và giảm đáp ứng cytokin loại I.

Viêm da dị ứng còn hay gặp do các bệnh: Viêm da dị ứng, viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm da tiếp xúc kích thích, bệnh tổ đỉa, chàm hình đồng xu, lichen đơn mạn tính, chàm không tiết nhờn, viêm da tiết bã nhờn.

Tổn thương da  do viêm da  dị ứng

Biểu hiện viêm da dị ứng

Các tổn thương gồm có nốt sần, vết giống ban đỏ và mụn nước, mụn nước có thể kết tụ lại tạo thành mảng; nhiều tổn thương do nhiễm khuẩn và trầy da, thể hiện thành rỉ nước và đóng vảy. Trên 50% bệnh nhân viêm da dị ứng có biểu hiện trong vòng một năm đầu sau khi sinh và 80% có biểu hiện bệnh cho đến 5 tuổi; trong đó khoảng 80% số bệnh nhân về sau có biểu hiện mắc thêm các bệnh viêm mũi dị ứng hoặc hen. Ở trẻ sơ sinh có thể bệnh đặc trưng là vết đốm viêm rỉ nước và màng đóng vảy xuất hiện trên mặt, cổ và bẹn. Trong khi ở trẻ em và thiếu niên, thể bệnh lại hay gặp là viêm da nếp gấp, nhất là ở các hố trước xương trụ và hố khoeo. Bệnh viêm da dị ứng có thể tự nhiên ở người lớn, nhưng ở trẻ em bị viêm da trên 50% có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Người lớn mắc viêm da dị ứng thường có tổn thương khu trú, biểu hiện dưới dạng chàm bàn tay hoặc lichen đơn mạn tính.
Ngứa là một triệu chứng nổi bật của viêm da dị ứng và do gãi gây ra nhiều tổn thương thứ phát khác trên vùng da bị bệnh. Các dấu hiệu khác của viêm da dị ứng là: xanh tím quanh miệng, xuất hiện thêm một nếp gấp nữa dưới mí mắt dưới (đường Dennie), tăng số chỉ tay, tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn da, nhất là khi bị nhiễm Staphylococcus aureus. Bệnh nhân bị viêm da dị ứng thường có da khô và ngứa, một số trường hợp tăng IgE huyết thanh.
Bệnh lý miễn dịch cho thấy tế bài T trợ giúp trí nhớ hoạt hóa, biểu hiện của kháng nguyên tế bào lympho da, là phối tử của phân tử bám dính tế bào nội mô chịu cảm ứng E-selectin. Trong viêm da dị ứng, tổn thương da cho thấy có tế bào Langerhans CD 1a+ dương tính mang IgE. Người ta cho rằng những tế bào này có liên quan với bệnh sinh viêm da dị ứng, qua khả năng điều tiết đáp ứng quá mẫn cảm với các dị ứng nguyên của môi trường sống.
Để chẩn đoán bệnh thường dựa vào các tiêu chí như sau: ngứa và gãi; bệnh tiến triển nặng rồi thuyên giảm; tổn thương có đặc trưng của viêm da dạng chàm; bệnh sử có dị ứng cá nhân hoặc gia đình như hen, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn hoặc chàm; diễn biến bệnh kéo dài hơn 6 tuần.

Phương pháp chữa trị viêm da dị ứng

Nguyên tắc điều trị bệnh viêm da dị ứng là tránh các kích thích da, sử dụng hợp lý, đúng chỉ định các chất glucocorticoid tại chỗ có tác dụng thấp hoặc tác dụng vừa, và điều trị nhanh chóng tổn thương da nhiễm khuẩn thứ phát. Cần hướng dẫn bệnh nhân tắm bằng nước ấm, không phải nước nóng, tránh dùng hay hạn chế dùng xà phòng. Ngay sau khi tắm, lúc da hãy còn ướt, nên bôi thuốc glucocorticoid trên da dạng kem hoặc dạng thuốc mỡ có tác dụng nhẹ hoặc tác dụng vừa. Chú ý không nên dùng các glucocorticoid tại chỗ có flo hóa ở vùng da mặt và các chỗ da trầy.


viêm da cơ địa dị ứng

Trường hợp tổn thương da có mày và rỉ nước, nên điều trị bằng kháng sinh toàn thân có tác dụng chống S.aureus, vì nhiễm khuẩn thường làm cho chàm nặng thêm. Nên dùng kháng sinh pencillin loại kháng pencillinase hoặc cephalosporin vì tỷ lệ vi khuẩn kháng macrolid khá cao. Nếu dùng dicloxacillin hoặc cephalexin theo liều 250mg x 4lần/ngày, trong 7-10 ngày, thường đủ để làm giảm sự tạo khóm nặng. Có thể dùng thuốc kháng khuẩn có chứa triclosan và mupirocin rửa mũi cách quãng để điều trị dự phòng.
Điều trị triệu chứng ngứa là rất quan trọng vì viêm da dị ứng thường có ngứa nổi ban. Những loại thuốc kháng histamin có tác dụng điều trị ngứa, nhưng tác dụng làm dịu lại hạn chế. Vì vậy chỉ nên sử dụng các chất kháng histamin mà có tác dụng làm dịu da.
Trong điều trị cần hạn chế dùng glucocorticoid toàn thân, trừ trường hợp bệnh nặng không đáp ứng với liệu pháp dùng tại chỗ. Lưu ý rằng với bệnh nhân viêm da dị ứng mạn tính, sử dụng glucocorticoid toàn thân thường chỉ làm sạch da trong thời gian ngắn và khi ngưng thuốc, viêm da sẽ tái phát, có khi nặng hơn, vì vậy việc dùng thuốc này cần hạn chế.