Tuesday, January 31, 2012

Thoái hóa khớp



Nấu cơm, dọn nhà, đi chợ… những công việc nhỏ nhặt này cũng có thể là cực hình nếu bạn bị thoái hóa khớp. Bệnh thường tấn công người già và phụ nữ, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế.

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhầy giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa hai đầu xương. Tình trạng này gây đau nhức và cứng khớp, hạn chế cử động khớp. Tuy không gây tử vong như cao huyết áp, tiểu đường nhưng bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động…
Thoái hóa khớp không phải là bệnh của riêng người lớn tuổi. Nó có thể phát triển từ những tháng đầu tiên của cuộc đời. Khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 và 85% người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ. Sau tuổi 45, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (gấp khoảng 1,5- 2 lần). Thoái hóa khớp hay tấn công phụ nữ trẻ sau thời kỳ mang thai và sinh nở, gây các cơn đau đớn.

Thoái hóa khớp thường tiến triển chậm. Vào giai đoạn khởi phát, người bệnh chỉ cảm thấy đau nhức sau một vài động tác nhỏ.

 Một số trường hợp còn không cảm thấy đau đớn ở giai đoạn này. Chỉ có khoảng 1/3 bệnh nhân có biểu hiện bệnh trên phim X-quang.
Thông thường, bệnh nhân có các biểu hiện sau: đau âm ỉ ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương và cứng khớp (xảy ra theo định kỳ như khi vừa ngủ dậy hoặc đứng lên), sưng tấy tại một hoặc nhiều khớp, có tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi khớp gối, càng vận động càng đau nhiều. Nếu có cảm giác nóng, đỏ và sưng tại các khớp nghĩa là thoái hóa khớp đi kèm một căn bệnh khác.
Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những vị trí sau:
- Ngón tay: Thường do di truyền. Tỷ lệ thoái hóa khớp ngón tay ở phụ nữ cao hơn đàn ông (đặc biệt là phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh). Các cục bướu nhỏ, cứng xuất hiện tại điểm cuối của các đốt ngón tay, khiến ngón tay bị to và biến dạng, thô thiển, đi kèm cơn đau.
- Cột sống thắt lưng: Hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, đôi khi ảnh hưởng đến thần kinh tọa, khiến người bệnh có cảm giác đau rất mạnh từ lưng xuống chân, như có luồng diện chạy từ trên xuống. Giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dạy. Cơn đau diễn ra tối đa 30 phút thì giảm. Sau một thời gian, hiện tượng đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng lên khi làm việc nhiều nặng và giảm dần lúc nghỉ ngơi.
Cột sống cổ: Biểu hiện bằng cảm giác đau mỏi ở phía sau gáy, lan đến cánh tay ở bên có dây thần kinh bị ảnh hưởng.
- Gót chân: Bệnh nhân có cảm giác bị thốn ở gót chân vào buổi sáng, lúc bước chân xuống giường và đi vài bước đầu tiên. Sau khi đi được vài chục mét, cảm giác đau giảm nhiều, bệnh nhân đi đứng bình thường.
- Khớp gối: Người bệnh ngồi xổm và đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải níu vào một vật khác để đứng dậy; nặng hơn sẽ thấy tê chân, biến dạng nhẹ khớp gối.
- Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn ngay từ đầu vì khớp háng chịu sức nặng cơ thể nhiều nhất.

Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong hai tuần, bạn nên đi khám bác sĩ để xác định loại thoái hóa khớp.

 Việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế.
Hiện có hai phương pháp điều trị: dùng thuốc và không dùng thuốc. Trong điều trị không dùng thuốc (thường được chỉ định cho trường hợp nhẹ), bác sĩ áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại, dùng máy phát sóng ngắn hay siêu âm, xung điện giảm đau. Vận động liệu pháp cũng có hiệu quả trong giai đoạn cơn đau đã thuyên giảm. Lúc đau nhiều, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tránh cho khớp phải hoạt động.
Nếu việc điều trị bằng phương pháp trên không còn hiệu quả tích cực, bác sĩ sẽ kê một số thuốc có tác dụng kháng viêm – giảm đau và thuốc giãn cơ. Nhờ sự tiến bộ của y học, những năm gần đây, nhiều thế hệ thuốc kháng viêm – giảm đau mới đã ra đời, được gọi chung là nhóm ức chế COX-2. Ngoài khả năng kháng viêm, giảm đau, nhóm dược liệu này còn giúp hạn chế 60-70% tác dụng phụ ảnh hưởng nghiêm trọng đến dạ dày (xuất huyết hoặc thủng).

Theo Thế Giới Mới

Sunday, January 29, 2012

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Viêm loét dạ dày  tá tràng là những bệnh cấp hoặc mãn tính tại niêm mạc đường tiêu hoá do mất cân bằng bảo vệ, do vi khuẩn, tác dụng phụcủa thuốc (Piroxicam, Aspirin…), ăn uống, stress, trào ngược mạn tính các chất bài tiết của tụy, mật, acid mật hoặc do hội chứng Zollinger – Ellison.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Bệnh viêm loét dạdày là một bệnh rất phổbiến trong xã hội hiện nay. Nguyên nhân gây bệnh Viêm loét dạdày thì rất nhiều, nhưng chúngta có thểtổng kết lại trong một số nguyên nhân chính nhưsau:
Do chế độ ăn:
+ Ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng
+ Ăn nhiều chất béo
+ Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài
+ Nghiện rượu, nghiện thuốc lá
+ Ăn vội vàng, nhai không kỹ
+ Rối loạn giờ giấc ăn uống thường xuyên: ăn không đúng bữa, không đúng giờ, ăn quá khuya, lúc ăn thì quá no, lúc thì nhịn đói quá lâu.
·        Do thuốc & các hóa chất: thường gặp là acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid…
·    Do nhiễm trùng: đặc biệt trong thời đại ngày nay tình hình nhiễm HP rất được các BS chuyên khoa tiêu hóa quan tâm, đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng (DDTT).
·    Do nguyên nhân thần kinh: viêm loét dạ dày thường hay gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng, gặp ở người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, gặp ở người làm việc trí óc nhiều hơn ở người làm việc chân tay.
·  Do nguyên nhân nội tiết: đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan…

II. TRIỆU CHỨNG PHÂN BIỆT VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Viêm loét ddày:
 
- Đau bụng trên hoặc vùng thượng vị (vùng bụng trên, ngay dưới ức), ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn.
- Đói đau, no quá cũng đau. Đang đói, đau, ăn nhẹ thì hết đau. Đau tăng khi ăn các thức ăn như: chuối tiêu, dứa, dưa chua,…
- Xuất huyết (nếu có): Phân đen, mịn như cà phê hoặc nôn ra máu đỏ, da xanh tái, tim đập nhanh, vã mồ hôi, giảm huyết áp.
Viêm loét hành tá tràng:
- Đau vùng thượng vị: Đau dữ dội, đau rát, đau như bị cào, gặm; hoặc đau âm ỉ, bụng đầy hoặc cảm giác cồn cào như đói.
- Cơn đau giảm khi ăn thức ăn. Cơn đau lại đến sau khi ăn 1,5-3 giờ. Cơn đau thường làm bệnh nhân tỉnh dậy ban đêm. Có thể kéo dài vài ngày tới vài tháng. Đau tăng khi ăn thức ăn và nôn là các triệu chứng của loét môn vị
Thăm khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng tại bệnh viện hoặc các trung tâm y tế như: Chụp Baryt cản quang, nội soi, test H.P., định lượng acid, sinh thiết,… sẽ giúp chẩn đoán bệnh chính xác hơn.

III.  PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc điều trịviêm loét dạdày – tá tràng với mục đích điều trịnhưsau:
1. Giảm yếu tố gây loét.
- Dùng thuốc ức chế bài tiết acid clohydric và pepsin.
- Dùng thuốc trung hoà acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày – tá tràng.
2. Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc.
- Dùng các thuốc bao phủ niêm mạc và băng bó ổ loét.
- Dùng thuốc kích thích sản xuất chất nhầy (mucin) hoặc các phương pháp kích thích sự tái tạo niêm mạc bằng Laser cường độ thấp – Heli – Neon.
3. Diệt trừ Helicobacter pylori.
- Dùng các kháng sinh và các chất diệt khuẩn như Bismuth.
Ngoài việc uống thuốc điều trị duy trì, đối với các bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng, chế độ ăn là một phần của các yêu cầu điều trị và một chế độ ăn đúng cũng góp phần tích cực vào kết quả điều trị:
1. Nguyên tắc chung:
Bệnh nhân cần tránh ăn các thức ăn dễ kích thích như:
- Rượu, các chất gia vị như ớt, hạt tiêu. các chất có nhiều chất chua: hoa quả, dấm…
- Không hút thuốc lá, thuốc lào.
2. Ăn chế độ riêng:
Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn bệnh và các biến chứng kèm theo.
+ Đối với bệnh nhân đang bị xuất huyết tiêu hoá, đang đợt đau:
- Bệnh nhân cần nằm tại chỗ, tránh đi lại và tránh thay đổi tư thế đột ngột.
- Ăn các thức ăn lỏng (sữa, nước cháo) chia làm nhiều bữa cho đến khi hết đau, hết các triệu chứng của xuất huyết tiêu hoá (đi ngoài phân vàng), sau đó ăn đặc (cháo, cơm nát) rồi ăn dần dần trở lại bình thường.
+ Ngoài đợt sau:
- Ăn chậm, nhai kỹ.
-  Buổi tối nên ăn một miếng bánh ngọt hoặc uống một cốc sữa nhỏ, không nên để dạ dày rỗng, đói.
- Không cần thiết phải ăn cơm nếp như trước đây.
Bệnh nhân viêm loét dạ dày – tá tràng cần chú ý: Có chế độ làm việc hợp lý, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh Stress tâm lý.
Bệnh nhân cần lưu ý tái khám sau mỗi đợt điều trị, bác sĩ sẽ so sánh kết quả trước và sau khi điều trị để giúp bạn chữa trị bệnh hiệu quả!

Thursday, January 19, 2012

Ngộ độc rượu nguy cơ cao trong những ngày tết

Ngộ độc rượu! Không giống như thực phẩm, có thể mất thời gian để tiêu hóa, rượu được hấp thu nhanh chóng bởi cơ thể trước hầu hết các chất dinh dưỡng khác. Nếu uống khi đói, khoảng 20 phần trăm rượu được hấp thụ trực tiếp từ dạ dày và có thể tới não trong ít hơn một phút.

Định nghĩa

Ngộ độc rượu là một nghiêm trọng và đôi khi gây chết người – hậu quả của lượng rượu tiêu thụ lớn trong một thời gian ngắn. Uống quá nhiều, quá nhanh có thể ảnh hưởng đến hô hấp, nhịp tim và có khả năng dẫn đến hôn mê và tử vong.
Uống nhanh chóng hoặc nhiều đồ uống trong một ngày là nguyên nhân chính của ngộ độc rượu. Ngộ độc rượu cũng có thể xảy ra khi vô tình ăn sản phẩm gia dụng có chứa rượu.
Một người bị ngộ độc rượu cần có nhu cầu chăm sóc y tế ngay lập tức. Nếu nghi ngờ ai đó đã bị ngộ độc rượu, hãy cấp cứu y tế.
Điều trị bao gồm việc cung cấp hỗ trợ thở và dịch truyền tĩnh mạch cho đến khi hoàn toàn loại bỏ rượu khỏi cơ thể.
Điều trị cho bệnh nhân ngộ độc rượu.
Các triệu chứng
Các dấu hiệu và triệu chứng của ngộ độc rượu gồm:
- Lẫn lộn, trạng thái kinh ngạc.
- Ói mửa.
- Động kinh.
- Thở chậm (ít hơn tám hơi thở một phút).
- Không thường xuyên hít thở.
- Da xanh.
- Thân nhiệt thấp.
- Bất tỉnh.
Không cần thiết tất cả các triệu chứng có mặt trước khi tìm sự giúp đỡ. Một người bất tỉnh hoặc không thể đánh thức được có nguy cơ tử vong.
Nếu nghi ngờ rằng ai đó đã bị ngộ độc rượu, thậm chí nếu không thấy các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển, tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy làm theo các gợi ý:
- Nếu một người bất tỉnh, Thở ít hơn tám lần một phút hoặc đã lặp đi lặp lại nôn không kiểm soát được, hãy gọi số khẩn cấp địa phương ngay lập tức. Hãy ghi nhớ rằng ngay cả khi một người nào đó bất tỉnh hoặc đã ngừng uống, rượu vẫn tiếp tục được phát hành vào máu và mức độ của rượu trong cơ thể tiếp tục tăng. Không bao giờ giả định rằng một người “sẽ ngủ” trong ngộ độc rượu.
- Nếu người đó có ý thức. Các nhân viên tại trung tâm kiểm soát chất độc hoặc trung tâm gọi khẩn cấp có thể hướng dẫn là chăn sóc tại nhà hay trực tiếp đến bệnh viện. Tất cả các cuộc gọi đến trung tâm kiểm soát chất độc đều được giữ kín.
- Hãy sẵn sàng để cung cấp thông tin. Nếu biết, hãy chắc chắn để nói với nhân viên cấp cứu bệnh viện về các loại rượu uống, số lượng và khi nào.
- Không để một người bất tỉnh một mình. Trong khi chờ đợi để được giúp đỡ, không cố gắng để làm cho người nôn mửa. Những người đã bị ngộ độc rượu có giảm phản xạ và có thể sặc chất nôn của chính họ hoặc vô tình hít chất nôn vào phổi, mà có thể gây ra một chấn thương phổi gây tử vong.
Nguyên nhân
Rượu có trong nhiều hình thức, bao gồm:
- Isopropyl, Được tìm thấy trong rượu xát, sữa và một số sản phẩm tẩy rửa.
- Methanol, một thành phần phổ biến trong các chất chống đông, sơn và dung môi.
- Ethanol, tìm thấy trong đồ uống có cồn, nước súc miệng và một số thuốc.
Mặc dù ngộ độc rượu có thể xảy ra khi vô tình hoặc thậm chí cố ý tiêu thụ sản phẩm gia dụng có chứa rượu, hầu hết kết quả ngộ độc rượu do uống quá nhiều đồ uống có cồn, đặc biệt là trong một thời gian ngắn.
Bao nhiêu là quá nhiều?
- Không giống như thực phẩm, có thể mất thời gian để tiêu hóa, rượu được hấp thu nhanh chóng bởi cơ thể trước hầu hết các chất dinh dưỡng khác. Nếu uống khi đói, khoảng 20 phần trăm rượu được hấp thụ trực tiếp từ dạ dày và có thể tới não trong ít hơn một phút.
- Hầu hết rượu, mặc dù được xử lý bởi gan. Mất khoảng một giờ cho gan xử lý (chuyển hóa) rượu – nghĩa là 355 ml bia, 148 ml rượu vang hoặc 44 ml rượu mạnh. Đồ uống hỗn hợp đòi hỏi thời gian chuyển hóa lâu hơn.
- Tỷ lệ rượu được xử lý có thể thay đổi đáng kể từ người sang người và phụ thuộc vào một số yếu tố.
Điều gì xảy ra với cơ thể khi uống rượu?
- Rượu làm chậm kiểm soát dây thần kinh các hành động không tự nguyện như hơi thở, nhịp tim. Uống rượu quá nhiều có thể làm chậm và trong một số trường hợp có thể ngừng chức năng hô hấp và tuần hoàn. Nhiệt độ cơ thể cũng có thể hạ, dẫn đến ngừng tim. Và lượng đường trong máu có thể giảm thấp, đủ để gây ra cơn động kinh.
Yếu tố nguy cơ
Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc rượu, bao gồm:
- Tuổi. Trẻ thiếu niên và sinh viên đại học có nhiều khả năng uống, và bởi vì nhiều người lần đầu hoặc người uống thiếu kinh nghiệm, họ đang đặc biệt dễ bị ảnh hưởng của rượu. Tuy nhiên, trái với niềm tin phổ biến, đa số tử vong do ngộ độc rượu xảy ra ở những người độ tuổi 45 – 54.
- Giới tính. Theo truyền thống, trẻ em trai và đàn ông nhiều khả năng có ngộ độc rượu hơn em gái và phụ nữ. Trong những năm gần đây, tuy nhiên, khoảng cách đã thu hẹp. Ngày càng có nhiều phụ nữ uống hơn trong quá khứ, và nhiều hơn nữa là say rượu. Phụ nữ cũng dễ bị ảnh hưởng của rượu nói chung bởi vì họ sản xuất ít hơn một loại enzyme làm chậm sự hấp thu của rượu trong dạ dày.
- Trọng lượng. Cơ thể nhỏ hơn, hấp thụ rượu nhanh hơn, làm cho dễ bị ngộ độc rượu.
- Sức khỏe tổng thể. Có vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như bệnh tim hoặc tiểu đường, làm cho dễ bị các tác hại của rượu.
- Trạng thái dạ dày. Có thức ăn trong dạ dày làm rượu hấp thu vào máu chậm hơn nhưng không ngăn cản rượu xâm nhập vào máu.
- Việc sử dụng ma túy. Kết hợp rượu với các thuốc khác, bao gồm cả một số thuốc theo toa, làm tăng rất nhiều nguy cơ của quá liều rượu gây tử vong.
Các biến chứng
- Rượu là một chất kích thích dạ dày và có thể gây nôn mửa. Nó cũng làm giảm phản xạ há miệng. Điều này làm tăng nguy cơ bị nghẹt thở vì chất nôn nếu uống rượu quá mức. Còn là một nguy cơ vô tình hít phải chất nôn vào phổi, có thể dẫn đến một sự gián đoạn nguy hiểm hoặc gây tử vong do ngạt thở. Nôn quá nhiều cũng có thể dẫn đến mất nước nặng.
- Ngộ độc rượu nặng có thể gây tử vong. Những người sống sót có thể có tổn thương não không thể đảo ngược.
Các xét nghiệm và chẩn đoán
Ngoài việc kiểm tra các dấu hiệu nhìn thấy được và triệu chứng của ngộ độc rượu, bác sĩ có khả năng chỉ định xét nghiệm máu để kiểm tra mức độ rượu trong máu và xác định các dấu hiệu khác của độc rượu, chẳng hạn như lượng đường trong máu thấp. Xét nghiệm nước tiểu cũng có thể giúp để xác nhận chẩn đoán ngộ độc rượu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị ngộ độc rượu thường bao gồm việc chăm sóc hỗ trợ trong khi cơ thể tự chuyển hóa rượu. Điều này thường bao gồm :
- Theo dõi cẩn thận.
- Bảo vệ đường thở để ngăn chặn nghẹn thở hoặc các vấn đề khác.
- Ôxy liệu pháp.
- Quản lý chất lỏng thông qua một tĩnh mạch để ngăn ngừa mất nước.
Người lớn và trẻ em đã vô tình nuốt phải methanol hoặc rượu isopropyl có thể cần phải chạy thận để lọc cơ học chất thải và độc tố từ hệ thống, để tăng tốc độ loại bỏ rượu từ máu.
Phong cách sống và biện pháp khắc phục tại nhà
Tự khắc phục ngộ độc rượu tại nhà hầu hết không hiệu quả, và một số có thể nguy hiểm. Đây là những việc không làm:
- Dùng cà phê đen.
- Tắm vòi sen lạnh – những cú sốc của cảm lạnh có thể gây ra mất ý thức.
- Đi bộ.
- Có thể mất ý thức trong khi ngủ.
Nếu nghi ngờ rằng ai đó đã bị ngộ độc rượu, đây là những gì cần làm:
- Ở lại với một người đang nôn mửa và cố gắng giữ tư thế ngồi. Nếu phải nằm xuống, hãy chắc chắn để quay đầu sang một bên, điều này sẽ giúp ngăn ngừa nghẹn.
- Cố gắng giữ cho người tỉnh táo để tránh mất ý thức.
Đừng sợ để có được sự giúp đỡ cho một người, ngay cả khi nghĩ rằng nó sẽ không được đánh giá cao. Không để lái xe khi say rượu và cũng không để cho họ chết vì ngộ độc rượu.
Phòng chống
Đây là một số lời khuyên để tránh ngộ độc rượu:
- Để ngăn ngừa ngộ độc rượu, tiêu thụ đồ uống có cồn vừa phải. Hầu hết các bác sĩ khuyên nên không có nhiều hơn một lần uống một ngày cho phụ nữ và không quá hai lần uống trong ngày cho nam giới. Khi uống, hãy uống chậm.
- Giao tiếp với thanh thiếu niên. Nói chuyện với trẻ em tuổi teen về sự nguy hiểm của rượu. Say rượu tăng trong thời niên thiếu và thường là đỉnh trong độ tuổi từ 18 và 22, giảm sau đó. Bằng chứng cho thấy rằng trẻ em có cảnh báo về rượu của cha mẹ và những người quan hệ gần gũi với cha mẹ của họ ít có khả năng bắt đầu uống.
- Lưu trữ một cách an toàn. Nếu có con nhỏ ở nhà, cửa hàng rượu có chứa sản phẩm, bao gồm cả mỹ phẩm và thuốc men, để ngoài tầm tay của trẻ em. Trẻ em được cách ly với phòng tắm và tủ bếp để ngăn chặn truy cập vào các chất tẩy rửa, và giữ cho các hộ gia đình có chất độc hại trong nhà để xe hoặc khu vực lưu trữ một cách an toàn ngoài tầm với. Xem xét giữ đồ uống có cồn có khóa và chìa khóa.
- Nhận chăm sóc tiếp theo. Nếu đã được điều trị ngộ độc rượu, nhớ hỏi về việc chăm sóc tiếp theo. Gặp gỡ với một nhân viên y tế hoặc nhân viên tư vấn có thể giúp sắp xếp thông qua các vấn đề có thể dẫn đến uống và hành vi nguy hiểm khác. Giúp đỡ này có sẵn nhưng thường không được cung cấp.
Theo Dieutri.vn

Tuesday, January 17, 2012

Bệnh cao áp huyết (hypertension,high blood pressure) nguy hiểm,đưa đến những biến chứng nhưtai biến mạch máu não (stroke),chết cơtim cấp tính (heart attack),suy tim,suy thận.
Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ. Khổ cái, trong đa số các trường hợp,cao áp huyết không gây triệu chứng.Nhiều vị không biết mình mang bệnh,tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác, được bác sĩ cho biết có cao áp huyết. Cho nên, cao áp huyết nổi danh là một ‘’căn bệnh thầm lặng’’.
Cao áp huyết là gì? Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua những hệ thống mạch máu gọi là động mạch.Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn.Khi máu được tim bơm đầy,và chảy trong lòng các mạch máu,sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là áp huyết (blood pressure).Áp huyết thay đổi tùy lúc, và tùy các hoạt động của cơ thể.Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ,nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động,buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục,chơi thể thao.
Áp huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90.Số trên (140) được gọi là áp suất systolic (áp suất tâm thu): Sức ép của máu vào lòng động mạch mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim.Số dưới (90) được gọi áp suất diastolic (áp suất tâm trương): Áp suất trong lòng động mạch khi con tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp.Số trên tượng trưng áp suất cực đại (maximum) trong lòng động mạch và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong lòng động mạch.
Theo sự phân loại mới,áp suất systolic bình thường dưới 120 và áp suất diastolic dưới 80.Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất 3 lần,vào 3 dịp khác nhau),cao độ
Áp suất systolic: 140 đến 159,áp suất diastolic: 90 đến 99,cao độ 2: áp suất systolic: từ 160 trở lên,áp suất diastolic: từ 100 trở lên.
Những vị có áp suất systolic trong khoảng từ 120 đến 139,hoặc áp suất diastolic từ 80 đến 89,nay được xem là tiền cao áp huyết (prehypertension),sau dễ tiến đến cao áp huyết.

I.  NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH CAO HUYẾT ÁP:

Ðến 90% các trường hợp cao áp huyết,nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ,hoặc nói cách khác,với trình độ y khoa hiện tại,người ta chưa tìm ra được nguyên nhân.Một số như các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu nhiều quá,do bệnh của tuyến nội tiết,bệnh thận.
Có một số yếu tố ảnh hưởng,khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:
- Yếu tố gia đình: Cao áp huyết có tính di truyền.Có cha mẹ,anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ,bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé.
- Ðàn ông: Ðàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ.Tuy vậy,phụ nữ,sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.
- Tuổi tác: Cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35.
- Giòng giống: Người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn.
- Béo mập: Khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.
- Bệnh tiểu đường: Tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân,hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.
- Rượu: Các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết,đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận.
- Ðời sống thiếu vận động: Ðời sống thiếu vận động dễ gây béo mập và béo mập,như đã biết,có thể đưa đến cao áp huyết.

II. BIẾN CHỨNG CỦA CAO ÁP HUYẾT

Bệnh cao áp huyết,không chữa trị,làm hại cơ thể ta nhiều cách.Áp huyết cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn.Con tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi và yếu dần.Cho đến một lúc,con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu,không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể,nhất là khi người bệnh vận động,gây các triệu chứng mau mệt,choáng váng,khó thở…,nhất là khi vận động.
Áp suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Nhưng chỉ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào.Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại.Bạn tưởng tượng,nếu các mạch máu dồn máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại,dĩ nhiên đến một ngày nào đó,sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim.Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng,phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).
Tương tự,cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc,nuôi thân,nuôi mắt,… gây các biến chứng tai biến mạch máu não,suy thận,giảm thị giác,…So với người thường, người cao áp huyết,nếu không chữa,dễ bị bệnh hẹp tắc các động mạch tim khiến tim đâm ra thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần,dễ suy tim gấp 6 lần và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần.

III.   TRIỆU TRỨNG BÊNH CAO HUYẾT ÁP:

Ða số người cao áp huyết không có triệu chứng.Một số vị có những triệu chứng mơ hồ như hồi hộp (cảm thấy tim đập mạnh),nhức đầu,chóng mặt,…Cách tốt nhất,cứ 1-2 năm,dù chẳng cảm thấy mình có bệnh gì,bạn cũng nên đi khám bác sĩ và nhớ đo áp huyết,nhất là nếu bạn lại có những yếu tố không tốt như đã kể trên.
Với bác sĩ,định bệnh cao áp huyết thường chẳng khó gì.Một người xem là có cao áp huyết,nếu áp huyết cao từ 140/90 trở lên,đo 3 lần vào 3 dịp thăm khám khác nhau (người bệnh không nên dùng cà-phê,hút thuốc lá trước đó,nên ngồi nghỉ một lát,rồi áp huyết được đo ở tư thế ngồi hay nằm).Sau khi xác định một người có cao áp huyết,để tìm xem các cơ quan bên trong cơ thể đã tổn thương do cao áp huyết hay chưa,để từ đó,sẽ hoạch định đường hướng trị liệu,bác sĩ sẽ khám kỹ mắt,tim,các mạch máu.Ðồng thời, bác sĩ cho thử máu,thử nước tiểu, làm tâm điện đồ và chụp phim ngực (chest X-ray: chúng ta hay quen miệng gọi phim phổi). Những thử nghiệm và phim ngốc này giúp bác sĩ tìm hiểu thêm được người bệnh có cao cholesterol trong máu hay không, tim, thận đã tổn thương vì cao áp huyết hay chưa. Ðây là những yếu tố quan trọng cần nắm vững trước khi bác sĩ quyết định trị liệu bằng phương cách nào.
A.- Nhưng nếu bạn mang bệnh cao áp huyết,khi đi khám bệnh,bạn nên kể bệnh như thế nào nhỉ.Hay ta thử nghe một vị biết cách kể bệnh,trình bày cho bác sĩ nghe vấn đề cao áp huyết của mình:
Tôi đến đây hôm nay nhờ bác sĩ xem hộ tôi bệnh cao áp huyết. Tôi năm nay 45 tuổi, sang Mỹ mới 1 tháng. 2 năm trước,một hôm đau bụng,tôi đi khám bác sĩ,được bác sĩ cho biết áp huyết tôi hôm đó 142 trên 90. Áp huyết đo lại 2 lần sau đó cũng vẫn cao trên 140/90. Bác sĩ kết luận là tôi có cao áp huyết nhẹ.Bác sĩ cho thử máu,thử nước tiểu,làm tâm điện đồ,chụp phim phổi (tôi nghe nói,ở bên này, người Mỹ gọi là ‘’chest X-ray’’,dịch là phim ngực), và cho biết tôi không bị tiểu đường,cao cholesterol hay bị bệnh gì khác.Sau 3 tháng theo dõi và khuyên tôi bỏ thuốc lá,ăn lạt,thường xuyên vận động không có kết quả,bác sĩ cho tôi uống Aldomet 250 mg,ngày 3 lần. Áp huyết tôi xuống còn 120/80,bác sĩ bảo là tốt. Có điều Aldomet hay làm tôi mệt mỏi và buồn ngủ. Giữa tôi với bác sĩ,tôi cũng xin nói thực,nó cũng làm vấn đề chồng vợ của tôi bị suy giảm.Tôi ngưng Aldomet từ ngày qua Mỹ 1 tháng trước và từ đó đến nay,không dùng thuốc gì cả. Tôi hoàn toàn không có triệu chứng gì bất thường.Tôi bỏ hẳn thuốc lá 2 năm trước,khi được biết bị cao áp huyết,theo lời khuyên của bác sĩ. Tôi không uống rượu thường xuyên,chỉ thỉnh thoảng cuối tuần làm vài lon bia với bạn bè cho vui.
Bạn cũng nhớ cho bác sĩ biết bạn có hút thuốc lá,có uống rượu,hoặc đang dùng bất cứ thuốc nào không,kể cả những thuốc mua bên ngoài không cần toa bác sĩ,vì nhiều thuốc,như thuốc ngừa thai,thuốc chữa sổ mũi,nghẹt mũi (Actifed, Dimetapp, Sudafed,…) có thể làm áp huyết tăng cao.

IV.   CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP:

Cao áp huyết cần được chữa trị cẩn thận,để giảm thiểu những biến chứng,giúp ta sống lâu hơn và vui hơn.Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh và cũng tùy vào nhiều yếu tố khác.
Các phương pháp chữa trị lúc chưa cần dùng đến thuốc: Xuống cân nếu béo mập,ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo,bỏ thuốc lá,bớt uống rượu,thường xuyên vận động.Mỗi người có một sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người.Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng lý tưởng,bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống ký bằng ăn kiêng (diet) và vận động (exercise).
Về mặt chữa bằng thuốc,có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt bút biên toa. Ta cố đưa áp huyết xuống dưới 140/90 (ở người tiểu đường,người suy thận,nên dưới 130/80), với một thuốc rẻ,không gây phản ứng phụ (side effects),ngày dùng chỉ một lần cho tiện. (Nguyên tắc rẻ,đẹp,bền ở đâu cũng đúng.)
Thuốc chữa cao áp huyết ở Mỹ nay có 8 loại: Diuretics,ACE inhibitors,Angiotensin II receptor blockers,Calcium channel blockers,Beta blockers,Alpha blockers,Direct vasodilators, Centrally acting agents, tác dụng theo những cơ chế khác nhau,giá cả cũng rất khác biệt.
Thuốc nào cũng có mặt lợi và hại,cùng những tác dụng phụ của nó.Trong đa số các trường hợp cao áp huyết,những tài liệu hiện thời ở Mỹ đều khuyên chúng ta nên thử thuốc thuộc loại Diuretics (lợi tiểu) trước,vì thuốc này gần với nguyên tắc ‘’rẻ,đẹp,bến’’ nhất,rất hữu hiệu,lại rẻ,dùng lâu dài không cháy túi tiền.
Nhiều thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác,chẳng hạn các thuốc propanolol,timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine,hai thuốc Hytrin,Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến.Khéo dùng thuốc,ta có thể một ná bắn hai chim,dùng một thuốc chữa cả hai bệnh.
Bạn nên uống thuốc đều,không nên tự thay đổi lượng thuốc hoặc ngưng thuốc khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ. Cao áp huyết là bệnh kinh niên,suốt đời ta cần chữa kỹ.
Sự chữa trị nào trong y khoa cũng là tính toán,dò dẫm,bạn nên để bác sĩ có dịp thi thố tài năng vài lần.Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp,gây cho bạn phản ứng khó chịu, bạn nên trở lại cho bác sĩ biết,nhờ bác sĩ điều chỉnh sự chữa trị,có khi đổi một thuốc khác xem sao. Bạn chớ vội nghe rỉ tai: Thuốc tây ‘’nóng’’ lắm,chỉ nên dùng (như thế thì…tội cho thuốc tây lắm lắm,một thuốc làm bạn khó chịu,hàng trăm thuốc khác hàm oan). Rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến,cho đến một sáng đẹp trời, bạn mở mắt thức dậy,thấy một bên người liệt vì tai biến mạch máu não.Muộn mất rồi.
Cao áp huyết,‘’căn bệnh thầm lặng’’, lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ.Khám phá anh chàng thầm lặng này,đặt anh ta vào vòng kiểm soát,ta cứu vãn được nhiều việc.
Advertisements

Wednesday, January 11, 2012

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Viêm loét dạ dày  tá tràng là những bệnh cấp hoặc mãn tính tại niêm mạc đường tiêu hoá do mất cân bằng bảo vệ, do vi khuẩn, tác dụng phụcủa thuốc (Piroxicam, Aspirin…), ăn uống, stress, trào ngược mạn tính các chất bài tiết của tụy, mật, acid mật hoặc do hội chứng Zollinger – Ellison.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Bệnh viêm loét dạ dày là một bệnh rất phổ biến trong xã hội hiện nay. Nguyên nhân gây bệnh Viêm loét dạ dày thì rất nhiều, nhưng chúng ta có thể tổng kết lại trong một số nguyên nhân chính như sau:
Do chế độ ăn:
+ Ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng
+ Ăn nhiều chất béo
+ Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài
+ Nghiện rượu, nghiện thuốc lá
+ Ăn vội vàng, nhai không kỹ
+ Rối loạn giờ giấc ăn uống thường xuyên: ăn không đúng bữa, không đúng giờ, ăn quá khuya, lúc ăn thì quá no, lúc thì nhịn đói quá lâu.
·        Do thuốc & các hóa chất: thường gặp là acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid…
·    Do nhiễm trùng: đặc biệt trong thời đại ngày nay tình hình nhiễm HP rất được các BS chuyên khoa tiêu hóa quan tâm, đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng (DDTT).
·    Do nguyên nhân thần kinh: viêm loét dạ dày thường hay gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng, gặp ở người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, gặp ở người làm việc trí óc nhiều hơn ở người làm việc chân tay.
·  Do nguyên nhân nội tiết: đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan…

II. TRIỆU CHỨNG PHÂN BIỆT VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Viêm loét ddày:

- Đau bụng trên hoặc vùng thượng vị (vùng bụng trên, ngay dưới ức), ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn.
- Đói đau, no quá cũng đau. Đang đói, đau, ăn nhẹ thì hết đau. Đau tăng khi ăn các thức ăn như: chuối tiêu, dứa, dưa chua,…
- Xuất huyết (nếu có): Phân đen, mịn như cà phê hoặc nôn ra máu đỏ, da xanh tái, tim đập nhanh, vã mồ hôi, giảm huyết áp.
Viêm loét hành tá tràng:
- Đau vùng thượng vị: Đau dữ dội, đau rát, đau như bị cào, gặm; hoặc đau âm ỉ, bụng đầy hoặc cảm giác cồn cào như đói.
- Cơn đau giảm khi ăn thức ăn. Cơn đau lại đến sau khi ăn 1,5-3 giờ. Cơn đau thường làm bệnh nhân tỉnh dậy ban đêm. Có thể kéo dài vài ngày tới vài tháng. Đau tăng khi ăn thức ăn và nôn là các triệu chứng của loét môn vị
Thăm khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng tại bệnh viện hoặc các trung tâm y tế như: Chụp Baryt cản quang, nội soi, test H.P., định lượng acid, sinh thiết,… sẽ giúp chẩn đoán bệnh chính xác hơn.

III.  PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY- TÁ TRÀNG:

Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng với mục đích điều trịnhưsau:
1. Giảm yếu tố gây loét.
- Dùng thuốc ức chế bài tiết acid clohydric và pepsin.
- Dùng thuốc trung hoà acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày – tá tràng.
2. Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc.
- Dùng các thuốc bao phủ niêm mạc và băng bó ổ loét.
- Dùng thuốc kích thích sản xuất chất nhầy (mucin) hoặc các phương pháp kích thích sự tái tạo niêm mạc bằng Laser cường độ thấp – Heli – Neon.
3. Diệt trừ Helicobacter pylori.
- Dùng các kháng sinh và các chất diệt khuẩn như Bismuth.
Ngoài việc uống thuốc điều trị duy trì, đối với các bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng, chế độ ăn là một phần của các yêu cầu điều trị và một chế độ ăn đúng cũng góp phần tích cực vào kết quả điều trị:
1. Nguyên tắc chung:
Bệnh nhân cần tránh ăn các thức ăn dễ kích thích như:
- Rượu, các chất gia vị như ớt, hạt tiêu. các chất có nhiều chất chua: hoa quả, dấm…
- Không hút thuốc lá, thuốc lào.
2. Ăn chế độ riêng:
Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn bệnh và các biến chứng kèm theo.
+ Đối với bệnh nhân đang bị xuất huyết tiêu hoá, đang đợt đau:
- Bệnh nhân cần nằm tại chỗ, tránh đi lại và tránh thay đổi tư thế đột ngột.
- Ăn các thức ăn lỏng (sữa, nước cháo) chia làm nhiều bữa cho đến khi hết đau, hết các triệu chứng của xuất huyết tiêu hoá (đi ngoài phân vàng), sau đó ăn đặc (cháo, cơm nát) rồi ăn dần dần trở lại bình thường.
+ Ngoài đợt sau:
- Ăn chậm, nhai kỹ.
-  Buổi tối nên ăn một miếng bánh ngọt hoặc uống một cốc sữa nhỏ, không nên để dạ dày rỗng, đói.
- Không cần thiết phải ăn cơm nếp như trước đây.
Bệnh nhân viêm loét dạ dày – tá tràng cần chú ý: Có chế độ làm việc hợp lý, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh Stress tâm lý.
Bệnh nhân cần lưu ý tái khám sau mỗi đợt điều trị, bác sĩ sẽ so sánh kết quả trước và sau khi điều trị để giúp bạn chữa trị bệnh hiệu quả!

Tuesday, January 10, 2012

Bệnh ù tai

Bệnh ù tai: Nguyên nhân và cách điều trị

Ù tai là triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau, báo hiệu một tổn thương nào đó trên đường dẫn truyền của cơ quan thính giác. Nguyên nhân có thể do dáy tai lâu ngày bít chặt ống tai, hoặc do ngoáy tai chạm vào màng nhĩ…
Ù tai khiến người bệnh có cảm giác nghe khó diễn đạt chính xác, khó so sánh với bất cứ một âm thanh nào: lúc như có tiếng nhạc, lúc thanh, lúc trầm, hoặc như tiếng ve kêu, tiếng vù vù, rì rào, phì phì, thình thình…

I. NGUYÊN NHÂN GÂY Ù TAI:

Trong rất nhiều ca bệnh, các quá trình sinh thần kinh tự nhiên dần dẫn tới quên tiếng ù tai, nhưng trong nhiều trường hợp khác, ù tai trở nên khó chịu, thậm chí là nặng nề tới không chịu đựng nổi. Y học hiện chưa tìm ra được cách khử ù tai thật chắc chắn, trừ trường hợp ta biết rõ nguyên nhân là chữa trị khỏi (ví dụ, cục ráy tai mà ta có thể lấy ra được) hoặc là rối loạn gắn liền với một bệnh cụ thể: huyết áp cao, rối loạn chuyển hóa hoặc nội tiết.
Ai cũng có thể bị ù tai, không phân biệt giới tính, môi trường xã hội hoặc tuổi tác. Nguyên nhân thông thường nhất là chấn thương do âm thanh, thường thấy do nghe nhạc tăng âm hoặc do phơi nhiễm liên tục với âm thanh cường độ hỗn loạn (máy nghe nhạc di động). Tiếp theo là các bệnh về mạch máu và từ tuổi tác. Còn có các nguyên nhân khác, nhưng hiếm hơn: ngộ độc một loại thuốc, bệnh đặc thù về ốc tai, u lành não… Ngoài ra các nguyên nhân khác như:
- Cảm lạnh gây viêm mũi – họng xuất tiết
- Viêm tắc vòi tai (vòi Eustachi), viêm tai giữa, viêm áp-xe amidan, đau răng số 8 hàm trên.
- Đi máy bay ở độ cao.
- Chấn thương sọ não, chấn động mạnh vào tai như tát mạnh.
- Mất máu nhiều, đột ngột, chóng mặt, hoa mắt.
- Quá trình lão hóa cơ quan thính giác, gây hiện tượng thoái hóa, xơ xốp, ù tai, nghễnh ngãng, điếc…
- Một số bệnh hiểm nghèo kèm theo như tiểu đường, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp hoặc các bệnh ung thư như ung thư vòm họng, ung thư sàng hàm, các khối u ở não.
- Dùng lâu dài các thuốc streptomycin, gentamyxin, quinin…
- Ù tai có thể do một số nguyên nhân không nguy hiểm nhưống tai bị bít do ráy tai, nước… Song có một số vấn đề khác phức tạp hơn như nhiễm trùng, xơcứng chuỗi xương con trong tai.
Ù tai không chỉ thuộc chuyên khoa tai – mũi – họng, mà có liên quan đến nhiều chuyên khoa khác như tim mạch, nội tiết, chấn thương, ung bướu. Vì vậy, người bệnh cần được thăm khám tỉ mỉ để tìm nguyên nhân gây bệnh và kịp thời điều trị.

II. CÁC CHỨNG Ù TAI THƯỜNG GẶP:

Ù tai khách quan
Là loại ù tai mà không chỉ bệnh nhân, mà cả bác sĩ cũng có thể nghe thấy. Loại này hiếm gặp, thường gây ra bởi các rối loạn về mạch máu hoặc các cơthần kinh, u bướu trong đầu, cổ, hay não, hoặc các khiếm khuyết của một số cấu trúc của tai. Ù tai có thể cảm giác nhưmạch đập, hoặc có thể đồng nhịp với nhịp tim. Bị ù tai nhưmạch đập đồng nhịp với tiếng tim cần được chẩn đoán bởi bác sĩ chuyên khoa càng sớm càng tốt, vì đây có thể là triệu chứng của một bệnh nguy hiểm.
Ù tai chủquan
Là những tiếng ù chỉ có bệnh nhân cảm thấy. Loại này chiếm đại đa số (95 phần trăm) các trường hợp ù tai. Trong số này, hơn 60 phần trăm trường hợp không thể tìm ra nguyên nhân dù là có làm các xét nghiệm phức tạp. Trong số các trường hợp có thể tìm ra nguyên nhân, các nguyên nhân thường gặp nhất là:
- Do tuổi cao. Một phần của ù tai có thể liên quan với sự lãng tai ở người lớn tuổi do sự thoái hóa của thần kinh liên quan đến thính giác;
- Do ảnh hưởng của tiếng ồn quá độ. Ví dụ nhưnhững công nhân làm việc trong các hãng xưởng với nhiều máy móc ồn ào, nhạc sĩ nhạc rock, lính trận thường xuyên phải chịu đựng tiếng súng, những người làm trong phi trường, vân vân;
- Bệnh Méniere, là một bệnh của tai trong, với các cơn chóng mặt, mất thính lực, ù tai;
- Do ráy tai hoặc dị vật làm nghẹt tai;
- Bất thường của ống tai;
- Viêm tai giữa đi kèm với tràn dịch gây ra điếc do tổn thương sự dẫn truyền tiếng động trong tai;
- Xơcứng các xương tai, cũng là một nguyên nhân gây điếc do tổn thương sự dẫn truyền tiếng động trong tai;
- Do thay đổi của huyết áp;
- Các bệnh nội tiết, nhưbệnh tiểu đường hay các bất thường của tuyến giáp;
- Tổn thương vùng đầu cổ;
- Bất thường của vùng khớp hàm thái dương;
- Thuốc men, cũng là một trong các thủ phạm rất thường gặp gây ra ù tai. Một số thuốc thường gặp có thể gây ra ù tai:
*Aspirin
*Một số thuốc chữa cao huyết áp
*Một số thuốc kháng sinh
*Một số thuốc trị trầm cảm và lo lắng
*Một số thuốc antihistamine
*Một số thuốc giảm đau, chống viêm
*Một số thuốc an thần
- Bướu thần kinh thính giác, nếu không được cắt bỏ kịp thời, có thể chèn ép thần kinh, gây điếc.

III. ẢNH HƯỞNG CỦA Ù TAI ĐẾN SỨC KHỎE:

Triệu chứng ù tai, có thể gây ra nhiều vấn đề, ví dụ:
*Mất ngủ
o *Mất tập trung
o *Trầm cảm
o *Bực bội, vân vân
Ngoài ra, các bệnh gây ra ù tai, cũng có thể gây ra điếc, chóng mặt, buồn nôn…

IV. ĐIỀU TRỊ Ù TAI:

Ðiều quan trọng nhất là chữa nguyên nhân kịp thời và thích hợp, đặc biệt là những người bị ù tai không cân xứng giữa hai tai, hoặc chỉ bị ù một bên tai, hoặc bị ù tai liên tục.
Nếu bác sĩ chuyên khoa tai không tìm ra nguyên nhân của ù tai, một số phương pháp có thể giúp làm giảm ù tai, dù nhiều phương pháp chưa được chứng minh rõ ràng bằng các nghiên cứu khoa học. Một số trong số này có thể được tự thực hiện ở nhà một cách dễ dàng. Ví dụ như:
o Thể dục đều đặn, giúp cho máu đến vùng đầu cổ đầy đủ hơn
o Tránh rượu và những thứ có rượu, thuốc lá, chất caffeine, phó mát. Vì các thứ này có thể làm ù tai tệ hơn
o Ăn bớt mặn
o Nghỉ ngơi đầy đủ
o Tránh tiếng ồn
o Kiểm soát huyết áp đúng mức
o Thưgiãn, ví dụ nhưtập dưỡng sinh
o Dùng các tiếng động nhẹ nhàng khác để “đè” tiếng ù, nhưnghe nhạc nhẹ, dùng tiếng quạt máy,… nhất là vào giờ đi ngủ
Trên đây là một số cách mà ta có thể tự thực hiện. Các bác sĩ có thể dùng nhiều thuốc men hoặc một số phương pháp chuyên môn khác để giúp ta giảm hoặc khỏi ù tai. Các thuốc này cần toa cũng nhưcần được theo dõi chặt chẽ bởi bác sĩ, mỗi trường hợp có thể hoàn toàn khác nhau và đòi hỏi thuốc men cũng nhưcác phương pháp khác nhau. Cũng nhưtrong các đại đa số các trường hợp bệnh tật khác, ta không nên “mượn” thuốc hoặc cho nhau thuốc, vì đôi khi điều đó có thể gây ra nhiều nguy hiểm nếu không dùng đúng thuốc trị đúng bệnh, và không được theo dõi cẩn thận bởi bác sĩ để kịp phát hiện và chữa trị các tác dụng phụ hoặc biến chứng của thuốc và của bệnh.
Những biện pháp giảm bớt ù tai
Lặp quen”: đối với những người mắc chứng ù tai lâu ngày, phương pháp điều trị duy nhất là rèn luyện não để làm quen với thứ tiếng động nhiễu (phương pháp “lặp quen” nhằm quên đi một phản xạ). Phương cách là không phải chữa khỏi ù tai, nhưng tạo cảm giác là ù tai không gây phiền nhiễu, và phương pháp “lặp quen” cho kết quả rất tốt: có tới 85% ca được cải thiện.
Máy phát tiếng động: máy có kích thước nhỏ, có hoặc không ghép với bộ phận trợ thính, được gắn vào vành tai, luôn luôn phát ra cùng một dạng âm thanh. Cần đeo máy trong khoảng từ 12-18 tháng.
Liệu pháp ứng xử và tĩnh tâm học: chúng đều có mục tiêu là quản trị stress. Lợi thế là vừa nhanh vừa hiệu quả (cần từ 6-10 buổi điều trị). Cũng còn có nhiều giải pháp khác làm giảm thiểu ù tai như liệu pháp thôi miên hoặc một số phương pháp thư giãn như: xoa bóp, yoga…

Monday, January 9, 2012

Bệnh viêm xoang


Trước đây, viêm mũi, viêm xoang được coi là căn bệnh của mùa lạnh, của thời tiết lúc giao mùa. Nhưng hiện nay ngay cả khi thời tiết đã sang hè, viêm mũi, viêm xoang vẫn đang khiến không ít người phải khó chịu, khổ sở.
Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân gây viêm xoang như bị viêm nhiễm làm cho sự lưu thông không khí giữa các xoang bị ứ trệ, chất nhầy ở niêm mạc các xoang tiết ra không được lưu thông tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Đối với vi khuẩn thì có một số bình thường sống ký sinh ở trong xoang không gây bệnh, nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi thì chúng trở nên gây bệnh (ví dụ do niêm mạc xoang bị tắc nghẽn, bị viêm nhiễm do virút. Viêm xoang cũng hay gặp ở những người bệnh có cơ địa dị ứng (gặp phải thức ăn có tính chất gây dị ứng, phấn hoa, hóa chất, đang bị dị ứng như: mề đay, chàm, tổ đỉa, viêm da dị ứng, viêm mũi dị ứng kéo dài…) làm cho niêm mạc các xoang bị phù nề gây chít hẹp hoặc tắc nghẽn tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển rồi gây bệnh. Hoặc có thể do bị sâu răng, nhiễm trùng răng, đặc biệt là ở hàm trên; người có sức đề kháng kém như người cao tuổi, trẻ em còi xương suy dinh dưỡng, những người mắc bệnh đường hô hấp mạn tính kéo dài, dùng kháng sinh không hợp lý làm cho vi khuẩn kháng lại kháng sinh.
Môi trường sống không trong sạch, khói bụi, khói bếp, khói thuốc lá cũng là những yếu tố thuận lợi gây bệnh viêm xoang.
Bệnh không chỉ của mùa đông
Không chỉ rầm rộ trong mùa đông, không ít người khốn khổ vì căn bệnh này trong mùa hè. Nguyên nhân là do thời tiết thay đổi thất thường, khói xe, ô nhiễm môi trường và hơn cả là làm việc quá thường xuyên trong môi trường có điều hòa nhiệt độ. Khi chênh lệch nhiệt độ giữa phòng điều hòa và ngoài trời quá lớn, độ ẩm quá thấp, hệ thống máy lạnh không được làm vệ sinh thường xuyên, không khí trong phòng không được lưu thông tự nhiên nên vi khuẩn, nấm mốc, virut phát triển nhanh… đã dẫn tới bệnh cảm cúm, viêm họng, viêm mũi dị ứng và viêm xoang.
Ngoài ra bệnh hay gặp nhiều ở những đối tượng làm những nghề tiếp xúc với khói, bụi, như thợ mộc, thợ xây dựng, công nhân quét đường… Nhiều trường hợp mắc bệnh do đi ngoài đường thường không đeo khẩu trang, hoặc sống ở khu vực có môi trường bị ô nhiễm. Khói xăng từ các phương tiện giao thông ngày càng đông đúc. Đây chính là những nguyên nhân khiến tỷ lệ bệnh viêm mũi, viêm xoang chiếm số đông tại các khu đô thị và khi thời tiết đã vào hè, bệnh vẫn không thuyên giảm.
Phòng bệnh lúc “trái mùa”
Để giảm thiểu nguy cơ bị viêm xoang “trái mùa”, khi dùng điều hòa, chỉ nên để nhiệt độ chênh với môi trường không quá 8-10oC (nhiệt độ tối ưu là 26oC), nên có máy tạo độ ẩm dạng phun hơi nước hoặc đơn giản là một chậu nước để trong phòng.  Khi đi đường phải đeo khẩu trang đề phòng bụi bặm, không khí ô nhiễm.
Đối với những người đã bị viêm xoang thì khi bị bệnh không chỉ dùng các loại thuốc giảm nhanh các triệu chứng khó chịu mà quan trọng nhất vẫn là phải giải quyết triệt để bệnh như rửa mũi xoang đúng cách bằng nước muối sinh lý và dùng các loại thuốc đặc trị theo chỉ định của bác sĩ.

Wednesday, January 4, 2012

Một số bài thuốc chữa Viêm phế quản

Bài thuốc trị viêm phế quản

Mùa đông, thời tiết lạnh kèm hanh khô khiến làm gia tăng bệnh viêm phế quản nhất là ở trẻ em và người già. Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Sau đây là một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:
Thể phong hàn: gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh có biểu hiện ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1:
tía tô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2: (Hạnh tô tán): hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 – 20g chia làm 2 lần.
Bài 3: (Chỉ khái tán): hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 12g, tử uyển 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Nếu lưỡi nhờn, rêu lưỡi trắng, gia: bán hạ chế 12g, trần bì 8g.
- Nếu hen suyễn bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g.
Thể phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Người bệnh có biểu hiện ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài:
Bài 1: tang diệp 16g, rễ cây chanh 8g, rễ cây dâu 12g, bán hạ chế 6g, bạc hà 8g, cúc hoa 8g, rau má 12g, xạ can 4g, lá hẹ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:
(Tang hạnh thang gia giảm): tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 3: (Tang cúc ẩm gia giảm): tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tiền hồ 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 – 40g.
Thể khí táo: gặp ở viêm phế quản cấp khi mùa thu – đông trời hanh. Người bệnh có biểu hiện ho khan nhiều, ngứa họng, miệng họng khô, nhức đầu, mạch phù sác. Phép trị là hành phế, nhuận táo, chỉ khái. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: tang bạch bì 12g, mạch môn 12g, lá tre 12g, lá hẹ 8g, sa sâm 12g, thanh cao 16g, thiên môn 12g, hoài sơn 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2: (Thanh táo cứu phế thang): tang diệp 12g, thạch cao 12g, cam thảo 16g, mạch môn 12g, tỳ bà diệp 12g, hạnh nhân 8g, gừng 4g, a giao 8g, đẳng sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
  Lương yThái Hòe
Nguồn: suckhoedoisong.vn

Bệnh viêm phế quản

Viêm phế quản (VPQ) là một bệnh lý của đường hô hấp trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, sẽ gây ra ho và có thể kèm theo đờm (đàm) đặc.
Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, ở những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen.

I.  CÁC CẤP VIÊM PHẾ QUẢN:


VPQ cấp tínhbao gồm các triệu chứng ho có đờm và thỉnh thoảng có kèm nhiễm trùng đường hô hấp trên. Hầu hết nhiễm trùng này có nguyên nhân ban đầu là do siêu vi (virus), đôi khi còn do vi khuẩn. Nếu cơ thể bạn đang trong tình trạng sức khỏe tốt thì niêm mạc đường hô hấp sẽ trở về bình thường sau khi hồi phục từ nhiễm trùng hô hấp kéo dài trong vài ngày.
VPQ mạn tínhlà bệnh diễn tiến nặng và kéo dài, thường phải được điều trị đều đặn.
Nếu bạn là người hút thuốc và mắc VPQ cấp tính thì cơ thể bạn sẽ khó hồi phục hơn. Thậm chí nếu một người chỉ hít một hơi ngắn thuốc lá cũng đủ làm liệt tạm thời những lông mao có tác dụng đẩy những chất kích thích, bụi và những chất đờm nhầy trong đường hô hấp ra bên ngoài.
Nếu bạn vẫn tiếp tục hút thuốc, có nghĩa là những lông mao này tiếp tục bị tổn thương và không thể thực hiện đúng nhiệm vụ của chúng nữa, và do đó làm gia tăng nguy cơ khởi phát bệnh VPQ mạn tính. Ở những người nghiện hút thuốc nặng, hàng loạt lông mao sẽ bị mất chức năng. Phổi bị tắt nghẽn do nhiều đờm nhớt sẽ dễ bị nhiễm siêu vi và nhiễm khuẩn, theo thời gian sẽ gây biến dạng và tổn thương vĩnh viễn đường hô hấp trong phổi. Hiện tượng tổn thương vĩnh viễn này còn được gọi là Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Khi đó, bác sĩ sẽ tiến hành một thử nghiệm để đánh giá chức năng hô hấp được gọi là phế dung kế.
VPQ cấp tính thường gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh này có thể được điều trị hiệu quả mà không cần phải tiến hành chăm sóc y tế đặc biệt. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được đưa đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị khi có các triệu chứng nặng nề, kéo dài, hoặc bệnh nhân bị ho ra máu. Nếu bệnh nhân bị VPQ mạn tính thì sẽ có nguy cơ khởi phát các bệnh lý về tim mạch cũng như những bệnh lý nặng nề về hô hấp và nhiễm trùng. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN:

  • VPQ cấp tính:Thường do viêm nhiễm ở phổi, 90% bắt nguồn từ siêu vi (virus), 10% từ vi khuẩn.
  • VPQ mạn tính:Thường do một hoặc nhiều yếu tố. Nhiều đợt VPQ cấp lặp đi lặp lại theo thời gian sẽ làm suy yếu và gây kích thích ở phế quản, và có thể gây nên VPQ mạn tính. Ô nhiễm công nghiệp cũng là một thủ phạm. VPQ mạn tính thường gặp ở những người khai thác than, tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc, làm khuôn đúc kim loại, tiếp xúc liên tục với bụi. Nhưng nguyên nhân chính là nghiện thuốc lá nặng trong thời gian dài mà có thể làm kích thích phế quản và khiến chúng tiết ra quá nhiều chất đờm nhầy. Các triệu chứng của VPQ mạn tính có thể bị nặng hơn nếu trong không khí có nhiều SO2 hay các chất ô nhiễm khác.

III.  CÁC TRIỆU TRỨNG CỦA VIÊM PHẾ QUẢN:

  • Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ cấp tính là:
    • Ho liên tục
    • Có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây, thường xuất hiện từ 24 – 48 giờ sau khi ho
    • Sốt cao, lạnh run
    • Đau hay cảm giác thắt ngực
    • Đau dưới xương ức khi thở
    • Thở ngắn
  • Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ mạn tính là:
    • Ho kéo dài có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây (kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và liên tục trong hơn 2 năm)
    • Hơi thở khò khè, đôi khi ngừng thở
Các dấu hiệu nặng của VPQ cần được phát hiện sớm để đưa bệnh nhân đến bác sĩ:
Cần đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị thích hợp khi bệnh nhân có một trong những dấu hiệu sau:
  • Ho nhiều, kéo dài và làm ảnh hưởng đến giấc ngủ hoặc các sinh hoạt hàng ngày, hoặc có kèm đau ngực dai dẳng. Có thể bệnh nhân đang bị tổn thương các phế nang bên trong phổi.
  • Các triệu chứng kéo dài trên 1 tuần, và đờm trở nên nhiều hơn, sậm màu hơn, đặc hơn hoặc có máu
  • Bệnh nhân bị VPQ cấp tính mà có kèm các vấn đề về tim phổi mạn tính, hoặc bị nhiễm virus HIV, nhiễm trùng hô hấp… mà có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc các bệnh lý ở phổi nặng hơn như viêm phổi.
  • Khó thở. Đây là triệu chứng thường bị hiểu lầm là do VPQ. Nhưng nó còn là dấu hiệu của bệnh hen suyễn, khí phế thủng, lao phổi, bệnh tim, phản ứng dị ứng nặng hoặc do ung thư.

IV.  PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN:

  • Điều trị thông thường cho VPQ cấp tính bao gồm nghĩ ngơi, uống nhiều nước, ngưng hút thuốc, tránh bị xúc động, có thể sử dụng các thuốc hít để làm dãn phế quản và có thể kèm thuốc ho.
  • Đối với trường hợp VPQ mạn tính nặng thì sử dụng thuốc nhóm steroid đường hít hoặc uống để làm giảm viêm và có thể cho bệnh nhân thở oxy khi cần thiết.
Ở những người khỏe mạnh có phổi bình thường và không mắc bệnh mạn tính thì việc sử dụng kháng sinh là không cần thiết, thậm chí cả khi bị nhiễm khuẩn. Ho có đờm trong VPQ cấp tính trong hầu hết các trường hợp là một phản xạ tốt. Nó giúp tống đờm được sản sinh ra quá nhiều trong đường hô hấp. Tuy nhiên, nếu triệu chứng ho thật sự gây cản trở bệnh nhân khi ngủ hoặc gây đau thì bác sĩ có thể cho thêm thuốc ho. Nhưng trong đa số các trường hợp, bệnh nhân chỉ cần làm giống như điều trị một bệnh cảm cúm thông thường là uống acetaminophen, uống nhiều nước và không điều trị nhiễm trùng.
Trong trường hợp VPQ mạn tính, bệnh nhân thường dễ bị nhiễm trùng. Nếu bác sĩ không ngăn cản thì bệnh nhân nên được tiêm ngừa cúm và viêm phổi hàng năm.Vắc-xin ngừa viêm phổi thường là một mũi duy nhất. Một mũi vắc-xin sẽ giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi các chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến.
Không nên tự ý mua thuốc ho ngoài quầy thuốc tây để điều trị VPQ mạn tính trừ khi đã được bác sĩ hướng dẫn. Cũng giống như đối với VPQ cấp tính, ho có đờm trong VPQ mạn tính cũng là điều có lợi vì giúp tống bớt những chất đờm trong đường hô hấp ra bên ngoài. Thực tế, đôi khi bác sĩ kê đơn thuốc long đờm khi bệnh nhân có ho tương đối khan hoặc đờm quá đặc không thể khạc ra ngoài. Bệnh nhân cần theo dõi đờm về màu sắc, số lượng, độ đặc để có thể biết được tình trạng nhiễm trùng hô hấp. Khi đó, bác sĩ có thể cho dùng kháng sinh phổ rộng từ 5 – 10 ngày để điều trị nhiễm trùng. Trong trường hợp bạn quá cân, bác sĩ sẽ khuyên nên ăn kiêng để tránh quá tải cho tim. Nếu bạn bị kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã được xác định thông qua kết quả bất thường trên phế dung kế thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc dãn phế quản kháng hệ thống cholinergic. Đây là những thuốc giúp làm dãn tạm thời các phể quản bị hẹp trong phổi. Các bác sĩ cũng có thể sử dụng thuốc nhóm steroid để làm giảm hiện tượng viêm trong các phế quản. Tuy nhiên biện pháp điều trị quan trọng nhất và thành công nhất cho bệnh VPQ mạn tính và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngưng hút thuốc. Các công trình nghiên cứu cho thấy nếu bạn ngưng hút thuốc, thậm chí khi bệnh VPQ mạn tính và viêm phổi tắc nghẽn mạn tính đang trong giai đoạn tiến triển thì không những giúp làm giảm đi độ nặng của các triệu chứng mà còn giúp cải thiện tiên lượng cuộc sống.
Trong trường hợp VPQ mạn tính có kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, thì cơ thể bị suy giảm về khả năng vận chuyển oxy từ phổi vào máu. Do đó bác sĩ có thể cho bạn thở oxy liên tục hoặc tùy theo nhu cầu. Những thiết bị cung cấp oxy hiện nay đang được phổ biến một cách rộng rãi. Nếu bạn sử dụng bình oxy tại nhà thì phải đặc biệt chú ý không được đặt thiết bị gần những chất dễ cháy nổ như rượu, xăng, các loại bình xịt… hoặc gần những nguồn nhiệt như bếp, máy sấy tóc, lò sưởi…
Chế độ điều trị tại nhà :
VPQ cấp tính: Khi bị sốt, thở nhanh, khò khè thì bạn nên ở nhà, giữ ấm, uống nhiều nước. Không cần thiết phải luôn nằm tại giường, và cũng không nên vận động quá nhiều. Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ trong bình chứa đầy nước nóng.
VPQ mạn tính: Tránh tiếp xúc với nước sơn, xúc động quá mức, bụi và người đang bị cảm cúm. Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ bình chứa đầy nước nóng, mặc đồ ấm khi trời lạnh và khô. Cố gắng bỏ thuốc lá.
Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp đều tự khỏi sau vài ngày hoặc một tuần. Do hầu hết các viêm phế quản đều có nguyên nhân virus nên các kháng sinh không có vai trò điều trị ở đây. Ngay cả khi ho có đàm đặc & có màu đi chăng nữa, kháng sinh hầu như cũng không có tác dụng cải thiện bệnh nếu như nguyên nhân là virus.
Nếu Bạn hút thuốc, hãy ngưng thuốc lá hoặc chí ít là giảm thiểu lượng thuốc hít trong thời gian hồi phục viêm phế quản cấp.
Ở một số trường hợp, BS có thể kê toa các thuốc thường thấy trong điều trị hen suyển nhằm mục đích làm sạch đờm nhớt trong phế quản.
Triệu chứng ho trong viêm phế quản cấp kéo dài bao lâu?
Ho trong viêm phế quản cấp có thể kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Ho kéo dài là do các phế quản chưa lành lặn. Tuy nhiên ho có thể là triệu chứng của bệnh lý khác như suyển hoặc viêm phổi.
Nên đi BS trong các trường hợp sau:
Ho, khò khè kéo dài hơn một tháng, đặc biệt nhiều hơn khi ngủ hay khi vận động nhiều
Ho hơn một tháng và ho khạc ra dịch đàm hôi.
Ho, mệt, sốt cao liên tục
Ho ra máu
Khó thở khi nằm
Sưng phù chân