Monday, April 23, 2012

Bệnh béo phì ở trẻ

Béo phì là ăn bệnh đang ngày một gia tăng, đặc biệt ở những thành phố lớn. Không chỉ những trẻ bụ bẫm mới bị béo phì. Ở trẻ nhỏ suy dinh dưỡng, nguy cơ béo phì sau đó sẽ cao hơn bạn bè cùng lứa có cân nặng bình thường ít nhất là gấp đôi.
Triệu chứng bé bị bệnh béo phì:
Một đứa trẻ được xem là béo phì, hay nặng cân quá khi nó nặng hơn mức trung bình so với chiều cao và độ tuổi từ 20% trở lên. Nếu con số đấy vượt quá 40% thì thường bác sĩ sẽ khuyến cáo bé tham gia vào chương trình giảm cân đặc biệt dưới sự hướng dẫn của bác sĩ. Cách tốt nhất để xem trẻ có béo phì hay không là nhìn hai cánh tay và bắp đùi đứa trẻ: Nếu có những cuốn mỡ ngấn lên thì khả năng đứa trẻ là béo phì.
Chứng béo phì ở trẻ em rất nghiêm trọng. Những đứa trẻ béo phì có khuynh hướng lớn lên sẽ trở thành những người béo mập có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái đường, ung thư, ngừng thở khi ngủ và rối loạn về khớp xương…
Ngoài ra thì trẻ có thể không tự tin nếu như chúng bị bạn bè trêu đùa hay bị bỏ tẩy chay khỏi các trò chơi tập thể. Để giúp trẻ tự tin hơn, bạn hãy tìm cho trẻ những người bạn tốt có thể chấp nhận chúng một cách bình thường, tạo cơ hội cho trẻ tham gia các trò chơi mà chúng ưa thích.
Nguyên nhân gây béo phì ở trẻ:
Có nhiều yếu tố dẫn đến thừa cân, béo phì. Trong đó, phổ biến nhất là tình trạng năng lượng khẩu phần vượt quá nhu cầu, nhất là năng lượng do chất béo và bột, đường cung cấp. Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nguy cơ thừa cân – béo phì cao hơn trẻ bú mẹ, vì thức ăn nhân tạo giàu protein và muối, làm tăng áp lực thẩm thấu, gây cảm giác khát, kích thích trẻ ăn nhiều hơn.
Giảm hoạt động thể lực cũng là yếu tố nguy cơ cao của thừa cân, béo phì. Hiện có nhiều trẻ không tham gia thể dục thể thao, ít đi bộ, đi xe đạp… mà dành nhiều thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem vô tuyến, chơi điện tử. Theo một số nghiên cứu, trong khi xem vô tuyến, sự trao đổi chất giảm đáng kể.
Ngủ ít cũng gây béo vì làm giảm tiêu mỡ (quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh mối liên quan giữa thời gian ngủ ngắn với chứng béo phì.
Tuy chưa chứng minh được đầy đủ vai trò của di truyền đối với chứng thừa cân, béo phì nhưng thực tế cho thấy, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những đứa trẻ có cha hoặc mẹ nặng cân, đặc biệt là khi cả cha mẹ đều béo.
Cân nặng quá cao lúc đẻ cũng là yếu tố nguy cơ dẫn đến béo phì. Sự mất cân bằng trong chế độ ăn của mẹ khi mang thai sẽ tạo nên tình trạng dư thừa mỡ ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trẻ nhẹ cân sẽ hoàn toàn thoát khỏi nỗi lo này. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, trẻ 3-9 tuổi bị suy dinh dưỡng, thấp còi sẽ có nguy cơ thừa cân, béo phì cao gấp 2-8 lần so với trẻ không bị thấp còi. Nguyên nhân có thể là trẻ suy dinh dưỡng mạn tính có khối nạc thấp, chuyển hóa cơ bản và hoạt động thể lực giảm. Khi cung được cấp đủ năng lượng, trẻ sẽ tích luỹ mỡ rất nhanh.
Điều trị bệnh béo phì:
Phòng bệnh bao giờ cũng hơn chữa bệnh. Để dự phòng thừa cân và bép phì, cần chăm sóc tốt cho trẻ từ trong bào thai để tránh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh.Cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chỉ cai sữa sau 2 năm. Nếu phải nuôi bằng sữa bột, không nên sử dụng thêm đường hay tinh bột. Khi trẻ ăn dặm, thức ăn phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết để giúp tăng trưởng tối đa.
Khi trẻ đã bị béo phì thì phụ huynh nên:
  • Tham khảo ý kiến bác sĩ để biết được cân nặng phù hợp nhất cho trẻ dựa trên chiều cao, độ tuổi, vóc dáng và giới tính của trẻ. Nếu được bác sĩ khuyến cáo thì trẻ nên tham gia vào chương trình giảm cân dặc biệt.
  • Xác định đúng nguyên nhân gây béo phì cho trẻ để tìm phương pháp thích hợp.
  • Đảm bảo rằng trẻ vẫn có chế độ ăn cân bằng với đủ vitamin và khoáng chất. Giảm bớt bột,dầu mỡ,đường tinh luyện trong nấu ăn. Tránh bánh ngọt, bánh quy, kẹo và các loại nước ngọt có đường. Không nên vội vàng cắt khẩu phần ăn của trẻ mà phải luyện tập từ từ, kiên nhẫn.
  • Khuyến khích trẻ uống nhiều nước.
  • Cho trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời. Hạn chế thời gian xem TV và chơi game của trẻ.
  • Ðừng nhốt một đứa trẻ lẫm chẫm biết đi vào một cái cũi hoặc một chiếc ghế đẩy. Hãy để cháu tiêu hao năng lượng bằng cách bò hoặc tập đi. Ðối với các cháu lớn, nên tập cho các cháu chơi những trò chơi sống động.
Yeutre.net-Tonghop

Phòng tránh các bệnh về mùa hè

Vào giai đoạn này, những bệnh như say nắng, tiêu chảy, viêm mũi – họng, tả, lỵ, thương hàn, viêm não... đang vào mùa nhưng nếu biết phòng ngừa, chúng ta sẽ hạn chế được hậu quả

Ngoài sốt xuất huyết và các bệnh đường hô hấp (như cảm cúm, cảm lạnh, viêm tai mũi họng, viêm phổi), các bệnh về da (như nấm kẽ, nấm móng, hắc lào, ghẻ lở, bệnh lây qua đường tình dục) thì vào mùa hè, chúng ta còn thường mắc các loại bệnh như say nắng, say nóng; các bệnh đường tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu biết phòng ngừa và xử lý ban đầu sẽ hạn chế được rất nhiều về hậu quả.
Say nóng, say nắng
Cơ chế gây bệnh chung là do quá nóng gây ra và thường gặp ở những nơi tập trung đông người như công trường, xí nghiệp, hầm mỏ, hầm tàu, nhà máy... Biểu hiện của bệnh này là rối loạn sinh lý, hao hụt nước, sinh tố B, C... (đặc biệt là muối natri clorua).
Nếu bệnh đang ở thể nhẹ, người say nóng, say nắng sẽ rối loạn chuyển hóa nước, tuần hoàn, hô hấp; mất thăng bằng, chóng mặt, buồn nôn... Ở thể nặng, sẽ rối loạn nội tiết, tiêu hóa, cảm giác đắng miệng, ù tai, hoa mắt; cao hơn nữa là ức chế thần kinh trung ương, phù phổi, da xanh tím, mạch nhanh và nhỏ, huyết áp hạ, sùi bọt mép, co giật, hôn mê và rất dễ dẫn đến tử vong.
Bệnh nhi điều trị cảm cúm tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 - TPHCM. Ảnh: NGUYỄN THẠNH
Khi phát hiện có người bị say nắng, say nóng, phải nhanh chóng đưa nạn nhân về nơi yên tĩnh, thoáng mát, tạo điều kiện cho da thanh thoát, dễ toát mồ hôi, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý...
Các bệnh đường tiêu hóa
Mùa hè nóng bức, thức ăn dễ ôi thiu, nhiều loại vi khuẩn phát sinh, phát triển có thể gây bệnh tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy...
Nguồn gốc của bệnh có thể nhận thấy dễ dàng ở nguồn nước bị nhiễm bẩn, thức ăn uống không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, kèm theo đó là thói quen uống nước lã, ăn gỏi cá, quả xanh, tiết canh, thức ăn để ruồi bâu, kiến đậu...
Một khi bị tiêu chảy, nôn ói, đau bụng... dù bất cứ nguyên nhân nào cũng phải cho người bệnh uống nước oresol hoặc nước cháo, nước trái cây... Đặc biệt, không nên nhịn uống nước khi bị tiêu chảy, nôn ói.
Mùa hè cũng là mùa thường xảy ra là điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh đường tiêu hóa thành dịch. Vì vậy, cần nên ăn chín uống sôi, giữ gìn vệ sinh cá nhân, thanh khử khuẩn tốt các nguồn nước và vệ sinh môi trường khi mưa lũ tan đồng thời thông cống rãnh, giám sát chặt chẽ vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường...
Năm nguyên tắc phòng ngừa
Để phòng ngừa các bệnh mùa hè có hiệu quả, chúng ta cần lưu ý 5 nguyên tắc sau đây:
- Tắm gội hằng ngày, tránh để ngứa ngáy, khó chịu do bụi bặm, mồ hôi ứ đọng, nhất là với trẻ em; thay quần áo mỗi khi bị mưa ướt hay ra nhiều mồ hôi, nhất là với những trẻ hiếu động; không để trẻ gãi hay “giết” rôm (sảy) để tránh làm tổn thương da, nhiễm trùng da.
- Uống đủ nước khi làm việc hay đi học trong những ngày nắng nóng; đội nón hoặc mũ rộng vành để tránh say nắng.
- Không uống nhiều nước đá, không ăn thức ăn quá lạnh.
- Không để quạt điện thổi thẳng vào người, nhất là trẻ nhỏ, vì sẽ dễ bị cảm lạnh; không bật quạt lúc đi nằm sau khi vừa tắm xong; không đột ngột ra – vào phòng có gắn máy điều hòa đang hoạt động để tránh cảm lạnh. Với người bệnh cao huyết áp càng phải thận trọng hơn.
- Chăm lo đến ăn uống vì trong thời tiết nóng bức, cơ thể mệt mỏi, mồ hôi ra nhiều làm mất nhiều muối khoáng (chất điện giải) gây giảm độ toan của dịch vị sinh chán ăn. Khi ăn ít, uống nước nhiều, dịch vị đã ít lại bị pha loãng làm khả năng sát khuẩn giảm sút, vi sinh vật gây bệnh có cơ hội xâm nhập đường tiêu hóa và gây bệnh.
Pha muối ăn vào nước uống để phòng say nắng
Để phòng chống say nóng, say nắng, tại nơi làm việc và sinh hoạt không để sức nóng ảnh hưởng đến cơ thể quá lâu. Cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt, ở nơi thoáng mát, ăn uống các chất mát, dễ tiêu, hợp vệ sinh. Không uống rượu và các chất gây kích thích. Lao động ngoài trời phải đội mũ rộng vành, có lán che nắng, mặc áo quần rộng, màu sáng, lao động hợp lý; có nước uống vệ sinh pha thêm chút muối ăn để tăng cường các chất vi lượng, đặc biệt là sinh tố B, C, PP...
Bác sĩ VĂN TRUNG (Bệnh viện Nhi Trung ương)

Nguyên nhân khiến trẻ bị tiêu chảy

Trẻ em rất dễ bị tiêu chảy bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Biết được rõ nguyên nhân hoặc tham khảo những thông tin sau sẽ có ích cho mẹ trong quá trình mô tả triệu chứng của con khi gặp bác sỹ…

Nhiễm trùng do vi khuẩn

Vi khuẩn – như khuẩn salmonela, khuẩn shigella, khuẩn tụ cầu, … – cũng là nguyên nhân của bệnh tiêu chảy. Nếu bé bị nhiễm trùng do vi khuẩn thì bé có thể bị tiêu chảy nghiêm trọng, cùng với triệu chứng chuột rút, máu trong phân và sốt (bé có thể bị nôn hoặc không).
Một số sự nhiễm trùng do vi khuẩn có thể tự phát hiện, nhưng một số, như vi khuẩn E. coli lại có thể được tìm thấy trong thịt chưa được nấu chín và một số loại thực phẩm khác, có thể rất nguy hiểm. Nếu bé có những triệu chứng như trên hãy đưa bé đến bác sĩ. Bác sĩ sẽ kiểm tra và có thể xét nghiệm mẫu phân để phát hiện ra nhiễm trùng do vi khuẩn.

Nhiễm trùng tai

Trong một số trường hợp, việc nhiễm trùng tai (có thể do virus hoặc vi khuẩn) có thể là thủ phạm gây ra bệnh tiêu chảy. Không chỉ đau tai, bé có thể buồn nôn, nôn và kém ăn; bé cũng có thể bị cảm lạnh
Thuốc nhỏ tai hay khăn chườm ấm cũng có thể giúp bé xoa dịu cơn đau tai. Nhưng đối với trẻ dưới 2 tuổi, bạn nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi áp dụng bất kì loại thuốc nào cho trẻ.
Bên cạnh đó, bạn cũng có thể nâng đầu bé lên khi bé đang nằm để xoa dịu cơn đau. Nhưng không nên sử dụng gối vì nó có thể gây ngạt thở cho trẻ. Thay vì thế,bạn có thể đặt một vật gì dưới đệm, để nâng cao đệm lên.

Thực vật ký sinh

Nhiễm trùng do thực vật ký sinh cũng có thể dẫn tới bệnh tiêu chảy. Ví dụ như Giardiasis có nguyên nhân từ thực vật ký sinh cực nhỏ sống trong ruột.
Nếu bé bị nhiễm trùng do thực vật ký sinh, bé có thể bị tiêu chảy, sưng, đầy hơi, buồn nôn, chuột rút. Những loại nhiễm trùng này thường dễ lan truyền trong những trường hợp chăm sóc theo nhóm, và cách điều trị liên quan tới vấn đề y tế đặc biệt. Vì thế bé cần đến gặp bác sĩ.

Thuốc kháng sinh

Nếu trẻ bị tiêu chảy trong và sau khi dùng thuốc kháng sinh thì điều này có thể liên quan tới vấn đề vấn đề thuốc uống, thuốc mà có thể giết những vi khuẩn có lợi trong ruột cùng với những vi khuẩn có hại. Hãy nói với bác sĩ về biện pháp chữa trị nhưng không nên dừng việc cho trẻ uống thuốc đã được kê đơn cho đến khi bác sĩ có chỉ dẫn khác.

Quá nhiều nước ép

Quá nhiều nước ép (đặc biệt là nước trái cây có chứa socbito và hàm lượng cao frutoza) hoặc quá nhiều đồ uống ngọt có thể không có lợi cho dạ dày của trẻ và khiến trẻ không đi đại tiện được. Giảm lượng nước ép và nước uống có đường sẽ giải quyết được vấn đề này trong 1 tuần hoặc hơn.

Dị ứng thức ăn

Dị ứng thức ăn (hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng với những chất protein vô hại trong thức ăn) có thể gây ra một vài phản ứng nghiêm trọng – ngay lập tức hoặc trong vòng vài giờ. Các triệu chứng có thể gồm tiêu chảy, đầy bụng, đau bụng và phân có máu. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, dị ứng có thể dẫn tới phát ban, sưng tấy và khó thở. Gọi bác sĩ nếu trẻ có vấn đề về thở hoặc mặt/ môi trẻ bị sưng.
Chất protein trong sữa là kiểu dị ứng thường gặp nhất. Những loại khác bao gồm trứng, đậu phộng, đậu nành, lúa mì, cá và những động vật có vỏ.

Không chịu được thức ăn

Không giống như dị ứng thức ăn, việc không chịu được thức ăn là một phản ứng bất thường có thể không liên quan đến hệ miễn dịch. Một ví dụ là việc không chịu được lactoze. Nếu trẻ không chịu được lactoze thì điều đó có nghĩa là cơ thể trẻ không sản sinh ra đủ lactaza, một loại enzim cần thiết để tiêu hóa lactoze, một loại đường trong sữa bò và các sản phẩm từ sữa khác. Khi lactoze không tiêu hóa được có trong ruột thì nó có thể gây ra các triệu chứng như tiêu chảy, đau bụng, sưng tấy và đầy hơi. Các triệu chứng thường xuất hiện từ ½ – 2 giờ sau khi trẻ ăn các sản phẩm từ sữa.

Ngộ độc

Nếu trẻ bị tiêu chảy và nôn, và bạn nghĩ rằng trẻ có thể đã nuốt phải một thứ gì đó như dược phẩm, hãy gọi ngay bác sĩ. Những triệu chứng khác có thể bao gồm không thở được, mệt mỏi, co giật và mất phương hướng
Tổng hợp