Wednesday, February 22, 2012

Bệnh Thủy đậu – Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị

Bệnh thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra lây truyền rất nhanh. Thuỷ đậu có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.


1. Thủy đậu là gì? Nguyên nhân gây bệnh?
Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus gây ra rất thường gặp ở trẻ em. Tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster. Đa số trẻ em đều đã bị thuỷ đậu trước 15 tuổi, nhiều nhất từ 5 đến 9 tuổi, tuy nhiên bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thuỷ đậu thường nặng hơn khi xảy ra ở người lớn và ở trẻ còn nhỏ. Mùa đông xuân là thời gian các trường hợp thuỷ đậu xảy ra nhiều nhất.
2. Thủy đậu lây lan như thế nào?
Thuỷ đậu lây truyền rất nhanh. Nó rất dễ lây lan giữa các thành viên trong gia đình và giữa các học sinh cùng trường khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước và vết lở trên da người bệnh. Nó còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp. Bệnh nhân có thể truyền bịnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước khô vảy.
3. Triệu chứng và dấu hiệu của thủy đậu?
Triệu chứng thường xuất hiện từ 14 đến 16 ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ 10 đến 21 ngày. Thuỷ đậu biểu hiện bằng sốt nhẹ từ một đến 2 ngày, cảm giác mệt mỏi toàn thân, và phát ban (thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh).
Một số rất ít trường hợp, bệnh nhân có thể bị bệnh mà không thấy phát ban. Ban thuỷ đậu thường dưới dạng những chấm đỏ lúc đầu, sau đó phát triển thành mụn nước, vỡ ra thành vết lở, rồi đóng vảy. Thường phát ban đầu tiên ở da đầu, xuống thân mình (nơi ban trổ nhiều nhất), sau cùng xuống đến tay chân. Những phần da nào sẵn bị kích ứng như hăm tã, eczema, cháy nắng v.v. thường bị ban thuỷ đậu tấn công nặng nhất. Ban thuỷ đậu thường rất ngứa.
4. Điều trị thủy đậu ra sao?
- Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn. Có thể dùng Acetaminophen (Tylenol) để giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).
- Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.
- Chlorpheniramine, fexofenadine v.v. hoặc các loại thuốc kháng histamine khác có tác dụng giảm ngứa. Hãy bàn luận với bác sĩ về các chọn lựa trong điều trị.
- Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.
Sau cùng, đối với một số trường hợp thuỷ đậu có thể dùng Acyclovir. Acyclovir là một thuốc kháng virus được sử dụng để rút ngắn thời gian của bệnh. Thuốc chỉ hiệu quả nếu được dùng sớm, trong thời gian từ 1 đến 2 ngày khi bắt đầu phát ban thuỷ đậu. Acyclovir thường được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh kèm theo nguy hiểm (ví dụ lupus, đái tháo đường, người cao tuổi, bệnh nhân suy giảm miễn dịch).
5. Các biến chứng có thể xảy ra?

- Thuỷ đậu có thể gây biến chứng. Khi các mụn nước vỡ ra và bị nhiễm trùng có thể gây sẹo xấu, đặc biệt khi bệnh nhân gãi nhiều ở vùng tổn thương.
- Nhiễm trùng da là biến chứng của thuỷ đậu thường gặp nhất ở trẻ em.
- Biến chứng khác thường gặp là tổn thương thần kinh trung ương bao gồm những rối loạn ở tiểu não (rối loạn thất điều tiểu não, chóng mặt, run, rối loạn ngôn ngữ), viêm não (nhức đầu, co giật, rối loạn ý thức), tổn thương thần kinh (liệt thần kinh) và hội chứng Reye (kết hợp tổn thương gan và não khả năng gây tử vong, có thể xảy ra do dùng aspirin ở trẻ em).
- Các biến chứng đặc biệt nặng có thể xảy ra trên bệnh nhân AIDS, lupus, bịnh bạch cầu, và ung thư. Biến chứng còn xảy ra trên những bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch, như các corticoid. Trẻ sơ sinh có mẹ bị thuỷ đậu ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ chịu những nguy cơ cao của bệnh. Nếu mẹ phát bệnh thuỷ đậu 5 ngày trước hoặc 2 ngày sau khi sanh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh có thể lên đến 30%.
6. Thủy đậu có thể phòng ngừa bằng vaccin?
Người đã bị thuỷ đậu sẽ có miễn dịch suốt đời và không bao giờ bị lại. Nhưng nhiều khi về sau, virus có thể bộc phát lên bề mặt trở lại dưới dạng zona (giời leo). Mục tiêu hiện nay của nhiều nước trên thế giới là làm sao tiêm phòng thuỷ đậu cho hầu hết các trẻ em. Chỉ cần tiêm 2 mũi. Mũi đầu tiên tiêm lúc trẻ 1 tuổi và mũi thứ hai (tiêm nhắc lại) lúc 4 tuổi. Đối với người lớn chưa bị thuỷ đậu, có thể tiêm phòng vào bất cứ lúc nào. Phản ứng phụ khi tiêm phòng thuỷ đậu xảy ra không đáng kể. Tất cả trẻ em, trừ những trẻ suy giảm miễn dịch, đều nên được tiêm phòng thuỷ đậu.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH
Tham khảo: Medicine Net

Ung thư cổ tử cung: Y học bó tay nếu chữa muộn

Khoa Nội 1, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, không khí trong phòng hoá trị ảm đạm với hơn 10 bệnh nhân đang truyền hoá chất. Biết không còn sống được lâu vì căn bệnh quái ác đã ở giai đoạn 4, chị Mầu chỉ còn nước phó thác cho bác sĩ. Giá như được phát hiện sớm, mọi việc đã khác.


“Sau khi mãn kinh 7-8 tháng, tôi thấy ra huyết, dù ít nhưng dai dẳng nên mới đi khám. Ai ngờ bị ung thư vì biểu hiện chỉ là ngồi lâu thấy thốn thốn ở bụng dưới..”, người phụ nữ buồn rầu kể lại.
Chị là Vũ Thị Mầu, 53 tuổi, người Minh Hải, Bạc Liêu. Nhập viện 2 tuần trước, chị được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến xa, di căn thận trái. Ổ bệnh không còn nằm khu trú, nên những can thiệp bằng xạ trị và phẫu trị đều vô nghĩa. Trước đó, bệnh nhân không biết gì về bệnh K cổ tử cung (K: ung thư), không đi khám phụ khoa sớm. Khi nhập viện, có khái niệm về tình trạng của mình thì đã quá muộn.
Còn ở khoa Xạ 1B, trong một phòng bệnh đông đúc khoảng 40 phụ nữ trung tuổi, chị Phan Thị Xáo, 58 tuổi rất dễ nhận ra với mái đầu nham nhở tóc. Chị Xáo quê Nha Trang, làm nghề bán rau đã nhập viện 5 tháng. Sau khi xạ 25 tia, mỗi tia 50 nghìn đồng, chị đã điều trị hai toa hoá chất, tốn khoảng 1 triệu đồng. “Di căn rồi nên nó chạy, nhức cả bả vai xuống tận nách. Ngày nhức nhiều hơn đêm. Có thuốc vô ói nhưng phải ráng ăn thôi”, chị Xáo nói.
Giọng chị buồn buồn: “Sau mãn kinh khoảng 6 tháng, rày có một hôm tự nhiên ra cái ào cả hai cục huyết đỏ tươi, to bằng lòng bàn tay, sợ quá mới đi bác sĩ. Nằm ở Bệnh viện Từ Dũ rồi họ thấy ra nhiều quá nên mới chuyển sang đây. Ở dưới quê chỉ thấy có bệnh mới đi chữa”.
Cá biệt, trường hợp bệnh nhân Huỳnh Thị Tuyết Loan, mới 15 tuổi, quê Tiền Giang, gia đình làm rẫy. Loan chưa có chồng, là con út trong 6 anh em, vẫn còn đi học. Do bị rong kinh nhiều tháng, huyết trắng đục, gia đình mới đưa em đi khám bệnh viện huyện, uống thuốc nhiều không khỏi mới chuyển lên bệnh viện Triều An, cuối cùng về đây. “Kim 6 lần rồi. Người ta có chồng, chửa rồi thì đỡ hơn, trong khi em vẫn là con gái, đau ráng chịu, không chịu không ai giúp được mình. Em nghĩ cả thế giới không ai bất hạnh hơn em”, Loan rưng rưng nói.
Lý giải về giai đoạn bệnh, thạc sĩ Lưu Văn Minh, Trưởng khoa Xạ 1B, cho hay, ung thư cổ tử cung có 4 giai đoạn. Giai đoạn sớm (0): tiền ung thư, hoặc ung thư tại chỗ, chỉ khu trú ở cổ tử cung. Giai đoạn từ 1B-2A: ung thư xâm lấn thân tử cung, âm đạo, hoặc toàn bộ vùng quanh tử cung. Giai đoạn 2B-4A, ung thư ăn đến các cơ quan gần: bàng quang, trực tràng. Cuối cùng, giai đoạn 4B, đã di căn xa như phổi, não, gan, xương. Theo tiêu chuẩn Tổ chức y tế thế giới, bước vào 1A đã là muộn để điều trị.
Đáng tiếc, giai đoạn 0: tiền ung thư, số bệnh nhân tìm đến được bệnh viện kịp thời quá hiếm hoi. Trong khi lúc này, hiệu quả điều trị bằng phẫu, xạ trị đạt trên 95%. “Bệnh nhân không cảnh giác vì triệu chứng mơ hồ, trong khi người Việt Nam không có thói quen đi khám phụ khoa để tầm soát. Đến khi thấy xuất hiện dấu hiệu bất thường thì đã ở giai đoạn ung thư xâm lấn”, ông Minh cho biết.
Bước vào giai đoạn bệnh nặng hơn là khi triệu chứng xuất hiện: xuất huyết âm đạo bất thường: khi đã mãn kinh, sau giao hợp, giữa hai kỳ kinh, hoặc rong kinh nhiều lần, lượng lớn. Theo bác sĩ Minh, giai đoạn này vẫn còn cơ may chữa khỏi đến 70-80%. Tỷ lệ chỉ còn 40-60% nếu bệnh nhân đến trễ hơn, với các triệu chứng đau nhức vùng chậu, hạ chi, phù nề, xạ và phẫu trị đã không còn hiệu quả. Giai đoạn cuối cùng, 4B, di căn xa thì hầu như không thể chữa khỏi, chỉ dùng hoá chất giảm sự tiến triển của bệnh.
Hiện nay, ở bệnh viện Ung Bướu, đa số bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn muộn. Ở hai khoa Xạ 1B và Xạ 1A, đã có gần 200 bệnh nhân nội trú, gần 160 ngoại trú ung thư cổ tử cung. Còn theo khảo sát của bác sĩ Dương Thanh Hồng, Phó trưởng khoa Nội 1, hoá trị cho trường hợp ung thư di căn xa, khoảng 40% số bệnh nhân K cổ tử cung điều trị đã ở giai đoạn quá trễ, dưới 10% sống thêm 5 năm. Số ca ung thư cổ tử cung xấp xỉ 30-40% trong tổng số gần 1.000 bệnh nhân,160 người nội trú hiện đang điều trị.
Điều đáng nói là sự chậm trễ chết người lại do chính người bệnh gây ra. Theo bác sĩ Hồng, ngoài trường hợp thờ ơ với việc khám phụ khoa, có người dù dấu hiệu rõ ràng vẫn đến muộn do tập quán tự chữa ở nhà, ngại đến cơ sở y tế, làm trễ thời gian điều trị. Bác sĩ Hồng gặp trường hợp bệnh nhân thấy ra máu, bèn đắp thuốc đen thui như thuốc rê, nhét sâu vào âm đạo. “Lúc khám, tôi phải lôi từng cục mủn mủn ra, rửa bằng nước muối sinh lý, trong khi cổ tử cung người này đang loét tùm lum, sùi, chảy máu..”, chị Hồng kể.
Còn theo bác sĩ Minh, khi thấy triệu chứng như xuất huyết âm đạo, huyết trắng, phụ nữ nông thôn nghĩ chỉ do nóng trong người, bị “tước”, bèn đi thày lang, chữa bằng uống… thuốc lá, xông vào cửa mình. Có người dùng rắn đặt vào trong âm đạo. Có người uống nước tiểu, hoặc đến khu vườn chữa bệnh ở Long An, nằm chơi, không uống thuốc. “Do đó, người bệnh ra máu nhiều hơn, băng huyết, đau nhức, hết cách trị mới đến cơ sở y tế”, ông Minh bức xúc.
Về vấn đề này, Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, Phó Chủ tịch Hội ung thư TP HCM, GS. Nguyễn Chấn Hùng cho rằng, cách duy nhất để kịp thời điều trị ung thư cổ tử cung là phụ nữ trên 30 tuổi nên đi khám tầm soát mỗi năm ít nhất 1 lần ở phòng khám phụ khoa, làm xét nghiệm tế bào âm đạo, tìm ung thư khi còn sớm. Khi có dấu hiệu, bệnh nhân tuyệt đối không tự điều trị bằng phương pháp dân gian, những phương pháp này chưa được chứng minh có thể chữa ung thư, nhưng thực tế làm bệnh thêm trầm trọng.
GS Hùng cho biết thêm: “Ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được, phát hiện sớm, điều trị tốt, dù đây là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ phía Nam. Hiện, thế giới đang nghiên cứu vacxin, hy vọng sẽ có ở Việt Nam 1-2 năm nữa”.
Theo GS. Nguyễn Chấn Hùng, các yếu tố tạo thuận lợi cho ung thư phát sinh: phụ nữ sinh đẻ nhiều, viêm cổ tử cung mãn tính, lấy chồng sớm, nhiều bạn tình…
Mối liên hệ bệnh: cổ tử cung bình thường – viêm cổ tử cung – cổ tử cung bị dị sản – tổn thương tiền ung thư (ung thư tiền xâm lấn hay giai đoạn 0) – ung thư cổ tử cung.
Chị em nên: khám phụ khoa 1 lần/năm, xét nghiệm tế bào âm đạo tầm soát bệnh, giữ gìn vệ sinh vùng kín. Đến cơ sở y tế ngay khi có dấu hiệu lạ: huyết trắng, xuất huyết âm đạo, đau bụng dưới…

Sunday, February 12, 2012

Viêm da dị ứng: Nguyên nhân, biểu hiện và phương pháp chữa trị

Viêm da dị ứng là biểu hiện tổn thương da của một dạng dị ứng. Bệnh có đặc trưng bởi bệnh sử gia đình bị hen, viêm da ở trên 70% trường hợp. Tỷ lệ mắc bệnh viêm da dị ứng đang tăng lên trên khắp thế giới, chẳng hạn tỷ lệ mắc bệnh ở học sinh Na Uy lên đến 23%.

Nguyên nhân viêm da dị ứng

Có nhiều nguyên nhân gây viêm da dị ứng như: Di truyền, khi cả cha và mẹ đều bị viêm da dị ứng thì trên 80% các con đều có biểu hiện bệnh; nếu chỉ có cha hoặc mẹ bị bệnh thì tỷ lệ mắc bệnh của các con là hơn 50%. Một số gen, trong đó có gen mã hóa IgE, là thụ thể IgE ái lực cao, men trytase dưỡng bào và interleukin (IL) 4 được xem là có liên quan đến bệnh viêm da dị ứng. Bệnh nhân có thể có biểu hiện bất thường về điều hòa miễn dịch, gồm có tăng tổng hợp IgE, tăng IgE đặc hiệu với các yếu tố như: thức ăn, dị ứng nguyên không khí, vi khuẩn…; tăng biểu hiện thụ thể IgE ái lực thấp trên bạch cầu đơn nhân to và tế bào B; suy giảm phản ứng quá mẫn cảm kiểu chậm; tăng đáp ứng cytokin loại II và giảm đáp ứng cytokin loại I.

Viêm da dị ứng còn hay gặp do các bệnh: Viêm da dị ứng, viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm da tiếp xúc kích thích, bệnh tổ đỉa, chàm hình đồng xu, lichen đơn mạn tính, chàm không tiết nhờn, viêm da tiết bã nhờn.

Tổn thương da  do viêm da  dị ứng

Biểu hiện viêm da dị ứng

Các tổn thương gồm có nốt sần, vết giống ban đỏ và mụn nước, mụn nước có thể kết tụ lại tạo thành mảng; nhiều tổn thương do nhiễm khuẩn và trầy da, thể hiện thành rỉ nước và đóng vảy. Trên 50% bệnh nhân viêm da dị ứng có biểu hiện trong vòng một năm đầu sau khi sinh và 80% có biểu hiện bệnh cho đến 5 tuổi; trong đó khoảng 80% số bệnh nhân về sau có biểu hiện mắc thêm các bệnh viêm mũi dị ứng hoặc hen. Ở trẻ sơ sinh có thể bệnh đặc trưng là vết đốm viêm rỉ nước và màng đóng vảy xuất hiện trên mặt, cổ và bẹn. Trong khi ở trẻ em và thiếu niên, thể bệnh lại hay gặp là viêm da nếp gấp, nhất là ở các hố trước xương trụ và hố khoeo. Bệnh viêm da dị ứng có thể tự nhiên ở người lớn, nhưng ở trẻ em bị viêm da trên 50% có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Người lớn mắc viêm da dị ứng thường có tổn thương khu trú, biểu hiện dưới dạng chàm bàn tay hoặc lichen đơn mạn tính.
Ngứa là một triệu chứng nổi bật của viêm da dị ứng và do gãi gây ra nhiều tổn thương thứ phát khác trên vùng da bị bệnh. Các dấu hiệu khác của viêm da dị ứng là: xanh tím quanh miệng, xuất hiện thêm một nếp gấp nữa dưới mí mắt dưới (đường Dennie), tăng số chỉ tay, tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn da, nhất là khi bị nhiễm Staphylococcus aureus. Bệnh nhân bị viêm da dị ứng thường có da khô và ngứa, một số trường hợp tăng IgE huyết thanh.
Bệnh lý miễn dịch cho thấy tế bài T trợ giúp trí nhớ hoạt hóa, biểu hiện của kháng nguyên tế bào lympho da, là phối tử của phân tử bám dính tế bào nội mô chịu cảm ứng E-selectin. Trong viêm da dị ứng, tổn thương da cho thấy có tế bào Langerhans CD 1a+ dương tính mang IgE. Người ta cho rằng những tế bào này có liên quan với bệnh sinh viêm da dị ứng, qua khả năng điều tiết đáp ứng quá mẫn cảm với các dị ứng nguyên của môi trường sống.
Để chẩn đoán bệnh thường dựa vào các tiêu chí như sau: ngứa và gãi; bệnh tiến triển nặng rồi thuyên giảm; tổn thương có đặc trưng của viêm da dạng chàm; bệnh sử có dị ứng cá nhân hoặc gia đình như hen, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn hoặc chàm; diễn biến bệnh kéo dài hơn 6 tuần.

Phương pháp chữa trị viêm da dị ứng

Nguyên tắc điều trị bệnh viêm da dị ứng là tránh các kích thích da, sử dụng hợp lý, đúng chỉ định các chất glucocorticoid tại chỗ có tác dụng thấp hoặc tác dụng vừa, và điều trị nhanh chóng tổn thương da nhiễm khuẩn thứ phát. Cần hướng dẫn bệnh nhân tắm bằng nước ấm, không phải nước nóng, tránh dùng hay hạn chế dùng xà phòng. Ngay sau khi tắm, lúc da hãy còn ướt, nên bôi thuốc glucocorticoid trên da dạng kem hoặc dạng thuốc mỡ có tác dụng nhẹ hoặc tác dụng vừa. Chú ý không nên dùng các glucocorticoid tại chỗ có flo hóa ở vùng da mặt và các chỗ da trầy.


viêm da cơ địa dị ứng

Trường hợp tổn thương da có mày và rỉ nước, nên điều trị bằng kháng sinh toàn thân có tác dụng chống S.aureus, vì nhiễm khuẩn thường làm cho chàm nặng thêm. Nên dùng kháng sinh pencillin loại kháng pencillinase hoặc cephalosporin vì tỷ lệ vi khuẩn kháng macrolid khá cao. Nếu dùng dicloxacillin hoặc cephalexin theo liều 250mg x 4lần/ngày, trong 7-10 ngày, thường đủ để làm giảm sự tạo khóm nặng. Có thể dùng thuốc kháng khuẩn có chứa triclosan và mupirocin rửa mũi cách quãng để điều trị dự phòng.
Điều trị triệu chứng ngứa là rất quan trọng vì viêm da dị ứng thường có ngứa nổi ban. Những loại thuốc kháng histamin có tác dụng điều trị ngứa, nhưng tác dụng làm dịu lại hạn chế. Vì vậy chỉ nên sử dụng các chất kháng histamin mà có tác dụng làm dịu da.
Trong điều trị cần hạn chế dùng glucocorticoid toàn thân, trừ trường hợp bệnh nặng không đáp ứng với liệu pháp dùng tại chỗ. Lưu ý rằng với bệnh nhân viêm da dị ứng mạn tính, sử dụng glucocorticoid toàn thân thường chỉ làm sạch da trong thời gian ngắn và khi ngưng thuốc, viêm da sẽ tái phát, có khi nặng hơn, vì vậy việc dùng thuốc này cần hạn chế.